SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú tại Trường Mầm non Tam Hồng

docx 32 trang tamdan 01/10/2025 1420
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú tại Trường Mầm non Tam Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_bua_an_ban_tru_tai.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú tại Trường Mầm non Tam Hồng

  1. BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. LỜI GIỚI THIỆU: Giáo dục mầm non là tạo nên những nhân cách đầu tiên, thiết yếu của con người và phát triển toàn diện về các mặt cho trẻ như: Thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm xã hội.Việc phối hợp hài hòa giữa giáo dục và chăm sóc nuôi dưỡng là việc không thể thiếu để có thể giúp trẻ phát triển được toàn diện về mọi mặt. Ngày nay đi liền với sự phát triển chung của xã hội, các gia đình chỉ có 1 đến 2 con, cuộc sống đủ đầy, sung túc hơn, trình độ nhận thức ngày được nâng cao. Vì vậy gia đình và xã hội cũng đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Vậy quan tâm như thế nào là đúng mực để cơ thể trẻ đượcphát triển cân đối, hài hòa, học tập tốt, cơ thể khỏe mạnh, việc trước tiên ta phải có một chế độ ăn uốngkhoa học, hợp lí nhằm mục đích giúp trẻ ăn ngon miệng nhưng phải bảo đảm dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm cho trẻ. Là Hiệu phó đảm nhận công tác chăm sóc nuôi dưỡng, tôi nhận thấy việc chăm lo an toàn, chăm sóc vệ sinh, bữa ăn giấc ngủ cho trẻ là việcrất quen thuộc, gần gũi hằng ngày thế nhưng nó lại có ảnh hưởng không hề nhỏ và trực tiếp đến sự phát triển của trẻ nhỏ. Mặc dù những công việc này là hết sức gần gũi nhưng nếu chúng ta không để ý dù là những chi tiết nhỏ nhất, thì bữa ăn của trẻ sẽ không đảm bảo đủchất, không đảm bảo an toànvệ sinh thực phẩm và sự cân bằng giữa các chất cần thiết trong bữa ăn ở trường mầm non. Thiếu đi sự an toàn, những giấc ngủsâu, thì thử hỏi liệu trẻ có thể phát triển thể chất một cách bình thường được không? Và còn sự phát triển các khả năng về trí tuệ sẽ ra sao? Đạo đức nghề nghiệp là điều luôn cần thiết ở bất cứ ngành, nghề nào. Đối với mầm non cũng không là ngoại lệ. Mỗi giáo viên, mỗi cấp dưỡng đều phải có trong mình đạo đức nghề nghiệp. Tức là cần phải biết động viên trẻ ăn hết suất, phần của mình, tránh cắt bớt đi khẩu phần của trẻ. Nếu làm như vậy thì trẻ sẽ khó mà có đủ về nhu cầu dinh dưỡng ở tại trường. Điều mà tôi luôn muốn đạt được trong công việc của mình đó chính là trẻ được cung cấp đủ về mặt dinh dưỡng, được vui chơi lành mạnh ở trường. Bên cạnh đó các cán bộ ,giáo viên, các cô cấp dưỡng thì yêu thương, gắn bó thân thiết với các cháu như con em trong nhà. Từng bữa ăn của trẻ cần phải đảm bảo vệ sinh ,ngon miệng, mùi hương hấp dẫn, .Có thế trẻ mới ăn được hết suất và có đầy đủ dinh dưỡng để phát triển được. Để thực hiện được điều này tôi đã không ít do dự và tự đề ra cho bản thân nhiệm vụ cần tìm ra một số giải pháp giúp tăng hiệu quả về chất lượng bữa ăn, giấc 1
  2. ngủ và sự an toàn cho trẻ trong trường mầm non ,đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nângcao chất lượng bữa ăn bán trú tại trường mầm non Tam Hồng” 2. TÊN SÁNG KIẾN: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú tại trường mầm non Tam Hồng” 3. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN: - Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Hằng - Địa chỉ: Trường mầm non Tam Hồng - Yên Lạc - Vĩnh Phúc. - Số điên thoại: 0985.570.284.Email: [email protected] 4. CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN: - Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Hằng - Chức vụ: Phó hiệu trưởng - Đơn vị: Trường Mầm non Tam Hồng 5. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: - Sáng kiến có thể áp dụng trong lĩnh vực: + Nuôi dưỡng bán trú trong trường mầm non. + Học sinh trường Mầm Non Tam Hồng. - Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng của việc nuôi dưỡng trẻ ăn bán trú tại trường. Từ đó tôi mạnh dạn đưa ra:“Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú tại trường mầm non Tam Hồng” 6. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG: - Từ ngày 07/09/2021 đến ngày 26/05/2022. 7. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN: 7.1 Nội dung của sáng kiến: Dinh dưỡng là nhu cầu sức khỏe của mỗi người, đặc biệt trẻ em là đối tượng cần dinh dưỡng để phát triển thể lực, trí tuệ. Còn người lớn thì cần dinh dưỡng để duy trì và phát triển sự sống để làm việc, xây dựng xã hội.Nếu trẻ được chăm sóc, nuôi dạy tốt sẽ mau lớn, khỏe mạnh phát triển tốt về mọi mặt sau này lớn lên mới cống hiến được cho đất nước, tổ quốc. Ngược lại,nếu trẻ nhỏ không được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt thì sẽ lớn rất chậm, thiếu dinh dưỡng và chậm phát triển về mọi mặt. Việc phối hợp các chất dinh dưỡng trong thức ăn là điều vô cùng quan trọng đối với sức khỏe cũng như sự phát triển về mọi mặt của trẻ. Do đó, cần phải đảm bảo cho từng bữa mỗi ngày của trẻ phải được an toàn, đầy đủ dinh dưỡng. Các cô nuôi dưỡng phải không ngừng học hỏi và tìm tòi để có thể tạo ra các món ăn mới nhưng vẫn phải đầy đủ dinh dưỡng và thơm ngon, hấp dẫn trẻ. Cùng với đó là tuyên truyền và kết hợp chặt chẽ với các bậc cha mẹ về công tác chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng trẻ. 2
  3. Ngoài việc tổ chức cho học sinh ăn uống đủ lượng, đủ chất cần phải lưu ý đến vấn đề vệ sinh cá nhân và đặc biệt là chú ý đến vệ sinh an toàn thực phẩm. Bởi việc bảođảm vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là vấn đề nóng và được nhiều phụ huynh quan tâm, đặc biệt là trong các trường mầm non, ngay cả trong lúc dịch bệnh phức tạp . Bởi lẽ trẻ còn nhỏ cơ thể còn non yếu, sức đề kháng còn kém, nếu để xảy ra ngộ độc thực phẩm thì vừa ảnh hưởng đến sức khỏe vừa ảnh hưởng đến tinh thần và trí tuệ sau này của trẻ. Thế nên việc thực hiện vệ sinh cá nhân và vệ sinh an toàn thực phẩm phải luôn được chú trọng, để ý đến trong trường mầm non. Là một người cán bộ quản lý trường mầm non, thì việc chỉ đạo hoàn thành tốt công tác nuôi dưỡng bán trú đểcải thiện chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là nhiệm vụ quan trọng, không chỉ riêng với cán bộ quản lý mà còn là nhiệm vụ đặc biệt cần thiếtđối với giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong trường mầm non. 7.1.1.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu: Năm học 2021- 2022 tôi được nhà trường phân công phụ trách nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng. Tôi đã nhận thấy được trường tôi có những điều kiện thuận lợi và như sau: a. Thuận lợi: - Phòng giáo dục và đào tạo huyện Yên Lạc, ban giám hiệu nhà trường, cũng như các cấp lãnh đạo địa phương đã quan tâm và chỉ đạo một cách vô cùng tận tình. - Bếp ăn bán trú của nhà trường được trang bị đầy đủ biểu bảng, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác nuôi dưỡng bán trú và được thực hiện theo quy trình bếp một chiều. - 100% cán bộ giáo viên trong nhà trường đã đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn.Tổ nuôi dưỡng có 1/7 nhân viên cóchứng chỉ nấu ăn. - Đa số nhân viên nuôi dưỡng trẻ nhiệt tình, yêu ngành, yêu nghề, chịu khó, học hỏi trong các vấn đề về chế biến, kiểm tra VSATTP, luôn tìm tòi sáng tạo trong chế biến, cải tiến các món ăn cho trẻ, biết sắp xếp bố trí đồ dùng dụng cụ nhà bếp gọn gàng, ngăn nắp có khoa học và thường xuyên vệ sinh sạch sẽ. - Ban giám hiệu và các đồng chí giáo viên, nhân viên trong trường luôn giúp đỡ và góp ý kiến kịp thời về các món ăn cho trẻ trong từng độ tuổi, từng nhóm lớp để tổ nuôi dưỡng ngày một hoàn thành nhiệm vụ được giao tốt hơn. - Nhà trường đã ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp thực phẩm uy tín, chất lượngtại địa phương. Đồng thời xây dựng vườn rau sạch đủ cung cấp cho trẻ ăn hàng ngày. - Các bậc phụ huynh luôn nhiệt tình ủng hộ, phối kết hợp cùng nhà trường trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. b. Khó khăn: 3
  4. - Một số giáo viên, nhân viên còn trẻ mới vào trường, có ít kinh nghiệm trong việc nấu các món ăn và nuôi dạy trẻ. - Địa bàn xã rộng,trường có 2 điểm mầm non, điểm lẻ Man Để nhân viên nuôi dưỡng phải vận chuyển thực phẩm đến phục vụ trẻ. - Kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của một số phụ huynh còn nhiều hạn chế cũng ảnh hưởng không ít đến sức khỏe và nề nếp của trẻ. - Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi còn khá cao vì nhiều em chưa có điều kiện sống và được chăm sóc tốt. * Bảng kết quả khảo sát đầu năm: Tháng 9/2021 T NỘI DUNG Tốt Tỷ lệ Khá Tỷ lệ Đạt Tỷ lệ Chưa Tỷ lệ T % % % đạt % I. Với giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng 1 Thực hiện giờ giấc 5/7 71 2/7 29 0 0 0 0 theo quy định 2 Mặc trang phục, đeo 6/7 86 1/7 14 0 0 0 0 bảo hộ khi làm việc 3 Không đeo trang sức 5/7 71 29 0 0 0 0 khi làm việc 2/7 4 Chế biến thực phẩm 7/7 100 0 0 0 0 0 0 theo quy trình bếp một chiều 5 Trình độ chuyên môn 1/7 14 2/7 29 4/7 57 0 0 6 Biết lựa chọn thực 5/7 71 2/7 29 0 0 0 0 phẩm đảm bảo VSATTP 7 Biết bảo bảo quản 4/7 57 3/7 43 0 0 0 0 thực phẩm 8 Tự tin bày tỏ ý kiến, 1/7 14 5/7 72 1/7 14 0 0 tham gia các hoạt động II. Với giáo viên các nhóm lớp 4
  5. 1 Thực hiện nề nếp vệ 20/40 50 19/40 47 1/40 3 0 0 sinh chung 2 Báo ăn chính xác, kịp 23/40 58 17/40 42 0 0 0 0 thời 3 Thực hiện vệ sinh cá 26/40 65 14/40 35 0 0 0 0 nhân trẻ đúng quy định 4 Sắp xếp bàn ghế, chỗ 20/40 50 20/40 50 0 0 0 0 ngồi giờ ăn hợp lý 5 Thử vị, giới thiệu tên, 22/40 55 13/40 33 5/40 12 0 0 giá trị dinh dưỡng của món ăn, khuyến khích trẻ ăn hết suất 6 Lồng ghép nội dung 16/40 40 15/40 38 9/40 22 0 0 giáo dục dinh dưỡng VSATTP vào các hoạt động giáo dục trẻ. 7 Nề nếp giờ ăn, giờ 21/40 53 19/40 47 0 0 0 0 ngủ 8 Sắp xếp chiếu, nệm 20/40 50 20/40 50 0 0 0 0 chỗ nằm giờ ngủ hợp lý 9 Có cô giáo thức trực 30/40 75 10/40 25 0 0 0 0 giấc ngủ cho trẻ 10 Có cô giáo theo dõi 27/40 67 13/40 33 0 0 0 0 khi trẻ đi vệ sinh III. Đối với trẻ. 1 Kỹ năng thực hành 250/6 39 226/6 35 100/6 15 70/646 11 nề nếp và vệ sinh 46 46 46 theo đúng quy định. 2 Kỹ năng thực hành 341/6 53 250/6 39 55/64 8 0 nề nếp giờ ăn và giờ 46 46 6 ngủ đúng quy định. 5
  6. 3 Ăn hết suất 510/6 79 136/6 21 0 0 0 0 46 46 *Cân đo tháng 9/ 2021 Tháng Tổng Cân nặng SDD thể Béo phì Chiều cao SDD Thấp 9/2021 số trẻ bình nhẹ cân bình còi được thường thường cân/ đo Tổng số 646 615 31 0 602 44 Tỷ lệ % 100 95 5 0 93 7 Với những khó khăn và thuận lợi như trên, tôi đã tìm hiểu và xây dựng nên một số biện pháp quản lí chỉ đạo với mục đích nâng cao hiệu quả cho bữa ăn bán trú của trẻ trong nhà trường như sau: 7.1.2. Một số biện pháp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng bán trú tại trường mầm non Tam Hồng” 1. Biện pháp 1. Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo bán trú. Căn cứ công văn hướng dẫn số: 1424/ SGDĐT-GDMN ngày 13/09/2021 của Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh phúc về việc hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2021– 2022 đối với giáo dục mầm non; Căn cứ vào văn bản số: 695/HD-GDĐT ngày 20/09/ 2021 của Phòng GD&ĐT Yên Lạc về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2021 – 2022. Nhà trường đã lên kế hoạch cho năm học 2021 – 2022 dựa theo những nhiệm vụ chung và cụ thể của cấp trên. Qua đó, đề ra các giải pháp, biện pháp cụ thể, triển khai các nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ theo từng tuần, tháng, có đánh giá kết quả công việc sau khi thực hiện để từ đó điều chỉnh và rút kinh nghiệm cho các tháng tiếp theo. Làm hồ sơ đề nghị UBND huyện Yên Lạc về tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm của nhà trường. Ngay từ khi mới vào đầu năm học tôi đã tham mưu với hiệu trưởng nhà trường về việc phân công Ban giám hiệu, ban thanh tra, nhân viên y tế làm công tác kiểm tra nhà bếp, kiểm thực bếp ăn để cho các thành viênban thanh tra,nhân viên y tế hàng ngày có nhiệm vụ: - Chịu trách nhiệm kiểm tra 3 bước đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại bếp ăn nhà trường cùng với đó là chất lượng bữa ăn về định lượng và dưỡng chất chính xác với giá trị mức ăn. 6
  7. - Số lượng thực phẩm cần được kiểm tra cẩn thận theo tính ăn, khẩu phần ăn cho trẻ. - Rà soát, theo dõi thật kĩ về chất lượng, nguồn gốc thực phẩm được nấu ăn cho trẻ. - Kiểm soát, giám sát trong quá trình tiếp nhận, bàn giao, sơ chế, chế biến thực phẩm, phục vụ cho trẻ hàng ngày tại trường - Kiểm tra, giám sát nhiệm vụ vệ sinh các khu sơ chế, chế biến; sử dụng, bảo quản đồ dùng bán trú, hệ thống ga, điện, nước nhà bếp. - Kiểm soát, giám sát công tác chia khẩu phần ăn theo đúng định lượng cho trẻ theo từng nhóm, lớp. - Thực hiện ghi chép lại đầy đủ số liệu, thông tin vào sổ kiểm thực 3 bước theo quy định. - Kết quả của việc kiểm tra và giám sát cần phải được ghi chép lưu lại công khai trước buổi họp định kỳ 1 lần/tháng; khiển trách, kỷ luật nghiêm nếu có bất cứ cán bộ, giáo viên, nhân viên nào bị vi phạm. Phân công lãnh đạo nhà trường trực bán trú tại trường 100% các ngày trong tuần tại 2 điểm trường, cùng với nhân viên y tế hàng ngày rà soát chất lượng thực phẩm trước khi giao cho nhà bếp chế biến, trực trưa trong các giờ ăn, giờ ngủ của trẻ để kịp thời kiểm soát những sự việc bất thường xảy ra. Các loại hồ sơ sổ sách bán trú cần phải được bộ phận nuôi dưỡng lập đầy đủ theo quy định. Hồ sơ bán trú cần phải được giám sát, ghi chép, cập nhật hàng ngày về số lượng, nguồn gốc, xuất xứ của các thực phẩm mua vào, lưu mẫu thức ăn đã chế biến, theo dõi việc cho trẻ ăn đúng thực đơn. Đến phiên họp hàng tháng, Hội đồng sư phạm Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng phụ trách bán trú chủ trì với mục đích đánh giá kết quả thực hiện công tác chỉ đạo bán trú trong tháng, thảo luận về những vấn đề phát sinh, khó khăn trong quá trình làm nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ bước nhận thực phẩm, sơ chế, chế biến, chia ăn, tổ chức cho trẻ ăn, ngủ, vệ sinh qua đó rút ra được những kinh nghiệm, bài học, đề ra kế hoạch công tác tháng tiếp theo để thực hiện tốt các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Chỉ đạo, giám sát việc thực hiện các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, chế độ kiểm thực 3 bước, lưu mẫu thức ăn theo quy định, thực hiện vệ sinh phòng chống dịch bệnh theo mùa, phòng chống dịch bệnh Covid - 19, phun thuốc khử trùng định kỳ 2 lần/năm và trong các đợt phòng chống dịch Covid – 19, mua sắm trang thiết bị vật tư y tế kịp thời. 2. Biện pháp 2: Xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn đảm bảo nhu cầu năng lượng hàng ngày, phù hợp với mức tiền ăn của trẻ. 7
  8. Căn cứ Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam năm 2016, Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi Chương trình Giáo dục mầm non đã quy định chế độ dinh dưỡng cho trẻ trong cơ sở giáo dục mầm non như sau: * Trẻ nhà trẻ: - Nhu cầu năng lượng khuyến nghị Nhu cầu khuyến nghị năng Nhóm tuổi Chế độ ăn Cơ sở GDMN (chiếm 60 – Cả ngày 70%/ ngày) 24 - 36 tháng Cơm thường 930 – 1000Kcal 600 – 651Kcal - Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Hai bữa chính và một bữa phụ. + Năng lượng phân phối cho các bữa ăn trong ngày tại trường: Bữa ăn buổi trưa cung cấp khoảng từ 30% đến 35% năng lượng trong cả ngày. Bữa ăn buổi chiều cung cấp khoảng từ 25% đến 30% năng lượng trong cả ngày. Bữa phụ cung cấp khoảng 5% đến 10% năng lượng cả ngày. - Nước uống: khoảng 0,8 lít - 1,6 lít/trẻ/ngày (bao gồm cả nước trong thức ăn). * Trẻ mẫu giáo: - Nhu cầu năng lượngkhuyến nghị của 1 trẻ mẫu giáo trong 1 ngày là: Nhu cầu khuyến nghị năng Nhóm tuổi Chế độ ăn Cơ sở GDMN (chiếm 50- Cả ngày 55%/ ngày) 36-72 tháng Cơm thường 1230 - 1320 615 - 726 Kcal Kcal. - Cho trẻ ăn 2 bữa/ngày tại trường gồm một bữa chính và một bữa phụ + Năng lượng phân phối cho các bữa ăn: Bữa chính buổi trưa cung cấp khoảng từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa phụ cung cấp khoảng từ 15% đến 25% năng lượng cả ngày. - Nước uống: khoảng 1,6 - 2,0 lít/trẻ/ngày (bao gồm cả nước trong thức ăn). Để hình thành nên một chế độ ăn đảm bảo, đáp ứng được nhu cầu năng lượng cũng như cân đối được các chất dinh dưỡng với mức tiền ăn thực tế tại trường là 15.000đ/trẻ/ngày tôi đã làm như sau: - Thiết kế thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo tháng, theo mùa. Luôn luônthay đổi sự kết hợp giữa các loại thực phẩm để các món ăn không bị nhàm chán. Thực 8
  9. đơn cân đối, phù hợp, đa dạng nhiều loại thực phẩm qua đó cung cấp nhiều chất dinh dưỡng khác nhau cho cơ thể và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - Kết hợp nhiều loại thực phẩm trong bữa ăn của trẻ, trung bình thực đơn 1 ngày của trẻ có từ 10 -16 loại thực phẩm và trong mỗi bữa ăn phải có đầy đủ cả 4 nhóm thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng (nhóm các chất đạm, nhóm các vitamin và khoáng, nhóm các chất bột đường và nhóm các chất béo). - Để đảm bảo nhu cầu khuyến nghị về năng lượng thì những suất ăn cần phải được lựa chọn thực phẩm một cáchcân đối giữa các chất cung cấp năng lượng ( protit, lipit, gluxit) theo nhu cầu khuyến nghị: Các chất Nhà trẻ Mẫu giáo Chất đạm ( Protit) 13% - 20% 13% - 20% Chất béo(Lipit) 30% - 40% 25% - 35% Chất bột đường(Gluxit) 47% - 50% 52% - 60% - Các thành phần khác cũng cần phải được cân đối với nguyên tắc như sau: 60% protein trở lên; Lipit: 70% lipit động vật, 30% lipit thực vật. -Trong chế biến món ăn, việc sử dụng muối cần hợp lí, không được nhiều quá nhưng cũng không được để thiếu hụt hàm lượng muối. Không được sử dụng thực phẩm đã được chế biến từ trước. Muối là một loại gia vị vô cùng quen thuộc với mọi người và được dùng hàng ngày trong việcnấu các món ăn. Tuy nhiên cơ thể chỉ cần một lượng rất ít, đối với trẻ mầm non nên sử dụng muối Iốt trong chế biến món ăn và chỉ nên sử dụng tối đa 3gam muối/ngày. Một số kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực phẩm chế biến sẵn có chứa nhiều chất phụ gia, không những không có lợi cho sức khỏe của trẻ mà còn là một trong những nguyên nhân gây thừa cân, béo phì. Một nguyên nhân gây biếng ăn ở trẻ đó là do cảm giác no giả từ bánh kẹo có đường tinh chế. Ngược lại thì thực phẩm chế biến sẵn thường có giá thành khá là cao. Vì vậy khi xây dựng thực đơn tôi hoàn toàn không sử dụng thực phẩm chế biến sẵn (xúc xích, mì tôm, giò, chả ) trong chế độ ăn của trẻ. - Tận dụng nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, có sẵn tại địa phương cho bữa ăn hàng ngày của trẻ đảm bảo tươi, sạch, an toàn và tiết kiệm chi phí. Một tuần đảm bảo trẻ phải được ăn đủ bốn bữagà, cá, tôm, thịt bò. Đều được nuôi và đánh bắt trực tiếp tại địa phương nhằm đảm bảo cung cấp vào trường còn tươi sống, thực phẩm không đổi màu. Nhà trường có mô hình vườn rau sạch đảm bảo cung cấp đủ rau xanh cho bữa ăn của trẻ. 3. Biện pháp 3: Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình chế biến món ăn cho trẻ. 9
  10. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là một việc vô cùng quan trọng đối với sức khỏe, đặc biệt trong quá trình chế biến các món ăn cho trẻ ở trường mầm non cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm.Tôi đã phối hợp cùng với ban giám hiệu thực hiện chỉ đạo công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình chế biến món ăn cho trẻ như sau.. *Yêu cầu về kiến thức vệ sinh, an toàn thực phẩm và sức khỏe đối với nhân viên cấp dưỡng: - Vào đầu năm học tôi tham mưu với Ban giám hiệunhà trường đề nghị văn phòng UBND huyện Yên Lạc phối hợp với nhà trường tổ chức lớp tập huấn kiến thức kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho cán bộ, giáo viên và các nhân viên trong nhà trường tham gia. Yêu cầu tất cả nhân viên cấp dưỡng đều phải học tập kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định, được chứng nhận đã tham dự tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm do UBND huyện Yên Lạc cấp. - Những nhân viên cấp dưỡng cần phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện sức khỏe theo quy định trước khi ký kết hợp đồng với nhà trường. Sau khi đã kí hợp đồng, mỗi một năm sẽ tổ chức khám sức khỏe định kì cho các nhân viên cấp dưỡng để bảo đảm vấn đề sức khỏe và không mắc các bệnh lây nhiễm theo danh mục của Bộ y tế. Trong quá trình thực hiện công tác theo nhiệm vụ được phân công, nếu phát hiện bị mắc các bệnh liên quan đến truyền nhiễm thì người mắc sẽ được tạm thời nghỉ việc hoặc sẽ được phân công công việc khác, tránh việc tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm cho đến khi bệnh được chữa khỏi hoàn toàn. * Quy định về độ hiểu biết vệ sinh, an toàn thực phẩm và sức khỏe đối với các nhà cung cấp thực phẩm: Các nhà cung cấp thực phẩm bắt buộc phải khám sức khỏe và có đủ sức khỏe, không mắc các bệnh lây nhiễm trước khi kí kết hợp đồng với nhà trường. Phải có bản cam kết cơ sở đủ điều kiện đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm với UBND xã và nhà trường. Khi kiểm tra đủ các điều kiện về sức khỏe, cam kết đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì nhà trường mới tiến hành ký hợp đồng và mời các nhà cung cấp thực phẩm tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm trực tiếp tại trường. Các nhà cung cấp phải có giấy khám sức khỏe định kỳ đảm bảo sức khỏe cung cấp thực phẩm cho nhà trường. * Kiểm soát nguyên liệu đầu vào -Việc rà soát, theo dõi nguồn nguyên liệu đầu vào cũng không kém phần quan trọng. Chính vì lẽ đó, tôi đã có ý kiến với Hiệu trưởng ký hợp đồng với các cơ sở có uy tín. Tôi đã yêu cầu các nhà cung cấp thực phẩm chỉ cung cấp các thực phẩm có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và có thể truy xuất, giao hàng đúng thời gian quy định (nhà trường sẽ báo số lượng thực phẩm cần sử dụng trong ngày cho các nhà cung 10
  11. cấpsau khi tính ăn xong) về việc bổ sung thực phẩm thiếu hoặc thừa, nhà cung cấp cần cố định (nếu thay đổi nhà cung cấp phải thông báo trước) - Đối với các thực phẩm có bao gói yêu cầu nhà cung cấp phải cung cấp đầy đủ các loại giấy chứng nhận đảm bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm, giấy xét nghiệm mẫu thực phẩm, khi giao hàng phải đảm bảo nhãn mác không rách, mờ, mất góc, ghi rõ hạn sử dụng. - Giao nhận thực phẩm: Trước khi nhận thực phẩm10 phút nhân viên nuôi dưỡng phải nắm rõ được số trẻ ăn bán trú trong ngày, số lượng từng loại thực phẩm được giao và nhận theo sổ tính ăn.Người nhận thực phẩm kiểm tra, đánh giá chất lượng thực phẩm, nhận đủ và ghi rõ số lượng thực phẩm an toàn theo thực đơn và sổ tính ăn cho trẻ toàn trường/ngày. Trong trường hợp phát hiện thực phẩm không đạt yêu cầu, thông báo ngay với bên giao để đổi thực phẩm đúng yêu cầu.Nói không với hàng ôi thui, kém chất lượng, không rõ nguồn gốc. Khi đã hoàn tất việc giao và nhận đủ số lượng thực phẩm thì người giao cần ký xác nhận vào sổ giao nhận trước mặt người kiểm tra, giám sát. - Thực phẩm giao nhận phải được giám sát tay ba giữa nhà cung cấp thực phẩm, thủ kho và người giám sát thực phẩm( Nhân viên y tế). nếu không đủ số lượng chất lượng nhà cung cấp cho nhà trường, thì cho quay đầu trở lại lấy thực phẩm thay thế đảm bảo đúng yêu cầu thì chế biến cho trẻ. - Hàng ngày ban giám sát thực phẩm phải sát sao ghi chép, ký giao nhận rõ ràng cụ thể. Hình ảnh nhập thực phẩm *Kiểm soát quá trình chế biến, nấu ăn. 11
  12. - Chỉ đạo nhân viên nuôi dưỡng đảm bảo quy trình chế biến theo nguyên tắc 1 chiều: Nguyên liệu sau khi nhập được sơ chế và chuyển vào bếp (nguyên liệu tươi sống và đảm bảo an toàn thực phẩm) để chế biến, tạo thành các món ăn, thức ăn nấu chín được mang sang khu vực chia ăn và cuối cùng là vận chuyển lên các lớp.Tuyệt đối không di chuyển thực phẩm ngược chiều chế biến. - Sơ chế thực phẩm: Đối với những thực phẩm tươi, sống thì phải sơ chế ngay ở trên bàn, tránh tuyệt đối không để thực phẩm tiếp xúc với mặt đất. Lựa chọn phần ăn được, loại bỏ các vật lạ lẫn vào thực phẩm như: Xương, thủy tinh, lông, tóc, sỏi, cát ...Phải rửa rau kỹ từ 3 lần trở lên, nếu lượng rau nhiều phải chia nhỏ ra rửa làm nhiều đợt, tiếp theo nên ngâm khoảng 10 - 15 phút rồi rửa lại một lần nữa. Còn các loại hoa, quả phải làm sạch, nếu có vỏ thì cần gọt vỏ rồi mới đem vàochế biến. Lưu ý khi sơ chế thực phẩm: + Nguyên liệu sạch không để cùng với nguyên liệu chưa sơ chế, các nguyên liệu khác nhau (thịt, cá, rau ...) cũng không để lẫn với nhau, thức ăn chín không để cùng với thức ăn sống. + Thực phẩm chưa sơ chế được để bằng một dụng cụ riêng, thực phẩm đã sơ chế được để bằng một dụng cụ riêng. Rổ, rá, xoong, chậu luôn bảo quản sạch không được để xuống đất, chỗ bẩn, ẩm ướt. Rửa sạch và cất gọn gàng khi dùng xong các dụng cụ như dao, thớt, nồi, .Thực phẩm sống cần có dao riêng và thực phẩm chín cũng cần phải có dao riêng. + Các loại dụng cụ phải được qui định và sử dụng thuận tiện Hình ảnh sơ chế thực phẩm 12
  13. - Chế biến món ăn: Đây là khâu vô cùng quan trongkhiến trẻ ăn ngon miệng, hết suất, đủ khẩu phần về năng lượng và các chất dinh dưỡng, khi chế biến cầnđảm bảo phù hợp với khả năng tiêu hóa của trẻ. + Chế biến món ăn cho trẻ mầm non: Các thực phẩm cần được chế biến sao cho hợp với trẻ như: Cơm dẻo, mềm, thức ăn chín tới, thơm, ngon, nóng, hấp dẫn,... Cách chế biến phải luôn biến hóa, thay đổi để trẻ không cảm thấy nhàm chán. Mỗi trẻ có một khẩu vị riêng nên để trẻ ăn hết suất thì cần lưu ý đến điều này Lưu ý trong quá trình chế biến. + Quá trình chế biến món ăn cho trẻ không được dùng hóa chất, chất phụ gia thực phẩm nằm ngoài hạng mục cho phép của Bộ y tế, chỉ dùng phẩm màu trong danh mục cho phép có nguồn gốc tự nhiên như: Gấc, bột nghệ, lá dứa ... + Khi nấu thức ăn, đồ uống và rửa dụng cụ thì cần sử dụng một nguồn nước sạch, an toàn. + Sử dụng nhiệt độ trung tâm khoảng 700C để đun nấu kỹ thức ăn. Vì khi đun kỹ thực phẩm thì mọi phần của thực phẩm đều được nóng và sẽ tiêu diệt hết các vi khuẩn có hại, bảo đảm an toàn cho người sử dụng. + Dùng các dụng cụ có nắp đạy kín để đựng dầu mỡ. Không để dầu mỡ ở những nơi có nhiệt độ cao và tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời. Khi quá hạn hoặc bốc mùi cần phải loại bỏ ngay. + Nhân viên cấp dưỡng thực hiện tốt 10 nguyên tắc vàng khi chế biến thực phẩm do tổ chức Y tế Thế giới công bố để tối thiểu nguy cơ ngộ độc thực phẩm cho trẻ tại trường + Trong quá trình chế biến thực phẩm nhân viên làm đâu gọn đấy. Nhân viên nuôi dưỡng chế biến món thịt gà 13
  14. *Chia và giao thức ăn. - Thức ăn sau khi nấu chín được chia cho từng lớp theo định lượng và từng xoong, xô inox được đậy nắp, vung trước khi chuyển lên lớp, nên chia và giao thức ăn lên lớp khi thức ăn còn ấm nóng, vừa nấu chín xong - Đối với các thực phẩm không cần nấu chín như: Táo, nho, dưa hấu, quýt, bánh bao thì cần chia cho trẻ ăn ngay khi vừa bóc vỏ hoặc cắt ra. - Không dùng thức ăn còn lại từ hôm trước cho trẻ ăn. Nhân viên nuôi dưỡngchia ăn và vận chuyển lên các lớp Lưu ý khi giao và chia ăn. + Phải sử dụng những dụng cụ chia thức ăn để chia, gắp thức ăn. Tuyệt đối không được sử dụng trực tiếp tay để chia thức ăn. + Trang bị đầy đủ nắp đậy cho các dụng cụ đựng thức ăn, phòng trường hợp thức ăn bị bụi bẩn bay vào trong khi đang vận chuyển. 14
  15. Giáo viên chuẩn bị giờ ăn cho trẻ lớp mẫu giáo 4 tuổi A1 4. Biện pháp 4: Chỉ đạo nhân viên cấp dưỡng thực hiện tốt quy định nhà trường đề ra: - Về thời gian: + Công việc của nhân viên cấp dưỡng cũng cần phải thực hiện nghiêm các quy định về giờ giấc chung, chỉ cần 1 trong 7 người thực hiện sai giờ giấc thì kéo theo sự chậm trễ chung, làm trễ giờ ăn cho trẻ, ảnh hưởng đến thời gian sinh hoạt hàng ngày của trẻ. + Để đảm bảo chế biến xong kịp với giờ ăn của trẻ, nhà trường tạo điều kiện cho nhân viên nuôi dưỡng luân phiên nhau hai người đi sớm nhận thực phẩm cùng nhà trường, năm đồng chí còn lại được phép đến muộn hơn 20 phút. Ai đi trễ hơn so với thời gian đã quy định phải xin phép nhà trường với lý do thuyết phục, thỏa đáng. + Trong trường hợp phát hiện ra việc không trung thực trong việc vi phạm khoảng thời gian đã quy định thì sẽ bị xử lí nghiêm. Tuy nhiên, sẽ cân nhắc theo mức độ vi phạm mà có các biện pháp khác nhau. Cần thiết sẽ áp dụng hình thức viết bản cam kết. + Tôi luôn theo dõi sát sao và nắm bắt tình hình để qua đó thực hiện đánh giá xác thực. - Trang phục, bảo hộ cô nuôi: + Đầu năm học khi nhà trường ký kết hợp đồng tôi đã trao đổi với ban giám hiệu may đồng phục cho nhân viên nuôi dưỡng 2 bộ đồng phục, bảo hộ (áo quần, khẩu trang, mũ, tạp dề ) để mặc làm việc tại trường. + Luôn luôn mặc trang phục khi chế biến thực phẩm, trang phục phải thường xuyên được giặt sạch sẽ - Móng tay, trang sức: 15
  16. + Đối với móng tay thì tuyệt đối phải cắt ngắn, không được đeo, mang trang sức khi chế biến thức ăn + Thường xuyên theo dõi nhắc nhở cấp dưỡng phải cắt móng tay, phát hiện có trường hợp đeo trang sức thì yêu cầu gỡ ra cất ngay. Nếu còn cố tình vi phạm thì nhà trường sẽ có biện pháp xử lý thỏa đáng. - Chế biến thức phẩm: + Nhiệm vụ là người quản lý phụ trách bán trú tôi vừa như là trao đổi và là yêu cầu để với cái tâm của mình cấp dưỡng nhập tâm vào công việc dù rất nhỏ: nhặt rau, thái thịt hay nạo củ, quả, bóc trứng, lọc thịt tạo cho cấp dưỡng cảm hứng “thổi hồn” mình vào chế biến, nấu ăn cho bữa ăn được “Ngon mắt, ngon mũi, ngon miệng” Tôi trao đổi với đồng chí cấp dưỡng, không có đồng chí nào là chính hay phụ, mà chúng ta trao đổi hỗ trợ lẫn nhau công việc gì ai cũng làm được. + Phân chia khu vực chín, sống tách biệt với nhau. + Chia riêng ra các đồ dùng đựng cũng như chế biến thực phẩm chín và thực phẩm sống - Vệ sinh: Phải dọn vệ sinh thật sạch sẽ từ trong ra ngoài khu vực nhà bếp, lau rửa và xếp gọn gàng ngăn nắp các đồ dụng cụ. - Tổ chức họp hội tổ cô nuôi theo định kỳ: Cứ vào chiều thứ 6 của tuần 2 và tuần 4 mỗi tháng sẽ tổ chức họp tổ cô nuôi. Đồng chí bếp trưởng làm chủ tọa, chị em trong tổ tự nhận xét, đánh giá và xây dựng chân thành để giúp nhau cùng tiến bộ. Trong trường hợp cần thiết tôi sẽ cùng tham gia tư vấn để cuộc họp thành công hơn. Từ đó họ sẽ nhận thức được trách nhiệm của bản thân và thực hiện công việc chung một cách nghiêm túc. 5. Biện pháp 5:Động viên tham gia học chứng chỉ nghề, nâng cao trình độ chuyên môn Tiền lương ít ỏi cùng với tư tưởng của các cô cấp dưỡng là đi học mất công, tốn tiền, học về có được vào biên chế đâu mà đi. - Khi cấp dưỡng tham gia học tập có rất nhiều ưu điểm như: Nâng cao tay nghề, cơ hội giao lưu học hỏi, dày dặn thêm kinh nghiệm chế biến món ăn hằng ngày cho người thân trong gia đình. Khi kết thúc khóa học tất nhiên mọi người sẽ có nhìn nhận khác. Năm tới nhà trường hợp đồng cấp dưỡng thì sẽ ưu tiên cho ai có chứng chỉ nghề hoặc đã có kinh nghiệm. Nếu không thích làm ở trường nữa thì cũng sẽ rất dễ xin việc nơi khác ví dụ như quán ăn, nhà hàng phục vụ ăn uống, hay tự mở dịch vụ kinh doanh cho chính mình. Hoặc khi bất ngờ có công văn của cấp trên đưa về xét tuyển nhân viên cấp dưỡng với yêu cầu là người địa phương, có sức khỏe, có bằng cấp, chứng chỉ nếu các không đi học thì lúc này sẽ vô cùng tiếc nuối. 16
  17. Qua trao đổi, đề nghị với các chị em cấp dưỡng kết quả là họ đã lựa chọn nơi phù hợp nhất đăng ký tham gia học lớp ngoài giờ, một đồng chí học trước, sau đó 4 đồng chí còn lại cũng đăng ký đi học.. 6. Biện pháp 6: Chỉ đạo tổ chức hoạt động ăn, ngủ đúng quy định Để tăng cường chất lượng bán trú thì việc tổ chức các hoạt động ăn ngủ cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp trẻ đảm bảo sức khỏe để tham gia các hoạt động trong ngày ở trường mầm non. Bởi lẽ khi trẻ được ăn no, ăn ngon miệng, ngủ nghỉ đúng giờ, đủ giấc thì sẽ giúp tinh thần của trẻ được thoải mái, vui vẻ để học tập, vui chơi. Vì vậy tôi đã chỉ đạo giáo viên nhóm lớp thực hiện các hoạt động ăn, ngủ cho trẻ đúng quy định như sau: * Yêu cầu về tổ chức giờ ăn cho trẻ. - Khu vực ăn được bố trí ngay tại lớp học, xa nhà vệ sinh tránh mùi hôi, ô nhiễm, trang bị đủ bàn ghế cho các nhóm lớp để trẻ có đủ chỗ ngồi trong giờ ăn (4- 6 trẻ 1 bàn) bàn ăn được lau chùi sạch sẽ bằng khăn ẩm sau đó lau lại bằng khăn khô trước khi tổ chức ăn. Sắp xếp các bàn ăn hợp lý để giáo viên dễ đi lại, quan sátkhi trẻ đang ăn. Sử dụng bàn chia ăn riêng, kê tại vị trí hợp lý, nơi trẻ ít đi lại. - Chuẩn bị đầy đủ bát thìa cho mỗi trẻ, nên chuẩn bị dư số bát, thìa so với số trẻ đểphòng khi trẻ làm rơi. Có đủ cốc uống nước, mỗi cốc đều có ký hiệu riêng cho từng trẻ. Đồ dùng ăn uống của trẻ cần phải đảm bảo vệ sinh, trước khi ăn cần phải sấy tiệt trùng bát, thìa của trẻ. Dùng các dụng cụ chia thức ăn để chia thức ăn cho trẻ. Mỗi trẻ có một khăn mặt riêng được đánh dấu bằng các ký hiệu và khăn được giặt hàng ngày, phơi khô. -Lúc tiến hành cho trẻ ăn, giáo viên phải tránh việc tiếp xúc trực tiếp với thức ăn.Luôn luôn rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi chia thức ăn cho trẻ và sau khi đi vệ sinh theo đúng các bước rửa tay. Chia thức ăn bằng dụng cụ, không được dùng trực tiếp tay khi chia thức ăn, cho trẻ ăn ngay sau khi chia, không cho trẻ ăn thức ăn đã để quá 2 giờ kể từ khi nấu xong - Luôn luôn cho trẻ rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, luôn nhắc trẻ đi vệ sinh trước khi ngồi vào bàn ăn, vệ sinh sạch sẽ cho trẻ sau khi ăn (rửa mặt, lau miệng, lau tay) - Khi trẻ đang ăn, các cô cần thường xuyên để ý trẻ để đảm bảo an toàn, tránh những trường hợp trẻ bị hóc,sặc, Trong trường hợp trẻ bị nghi ngờ ngộ độc thực phẩm thì giáo viên cần bình tĩnh sơ cứu và gọi bộ phận y tế. Giáo dục nhắc nhở trẻ thường xuyên về phòng tránh ngộ độc thực phẩm (ăn chín, uống sôi, không tự ý uống thuốc ) - Khi tổ chức bữa ăn cho trẻ, giáo viên chú ý lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe và kỹ năng tự phục vụ phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ như: thói quen tự xúc ăn, lấy nước uống, dọn bàn, bát, xếp ghế sau bữa ăn 17
  18. - Cácgiáo viên động viên khích lệ các em làm những công việc nhẹ nhàng, vừa sức,phù hợp với lứa tuổi.Trong quá trình trẻ tự phục vụ, giáo viên quan sát hướng dẫn trẻ tránh các nguy cơ không an toàn và khen ngợi trẻ khi hoàn thành công việc. * Tổ chức giờ ăn cho trẻ. + Trước khi ăn: - Giờ ăn được tổ chức trong khoảng 60 phút nên giáo viên cần tuân thủ thời gian hợp lý thời gian từ khâu chuẩn bị đến vệ sinh sau khi ăn. - Yêu cầu giáo viên chuẩn bị bữa ăn chu đáo, hấp dẫn sẽ kích thích trẻ hứng thú với bữa ăn, cho trẻ ăn đúng giờ để giúp hệ tiêu hóa tiết dịch và hoạt động tốt +Sắp xếp chỗ ngồi của trẻ tùy thuộc vào kỹ năng của từng độ tuổi để giáo viên tiện chăm sóc, mỗi bàn có thể sắp xếp 4-6 trẻ.Hướng dẫn trẻ rửa tay trước khi ăn, đối với trẻ nhà trẻ thì cô rửa tay cho trẻ. + Thời gian để chuẩn bị bữa ăn cho trẻ nên là từ 6 – 12 phút. + Chuẩn bị khăn lau tay, lau miệng sạch cho trẻ, mỗi bàn nên có 1 chiếc khăn ẩm để trẻ tự phục vụ khi cần thiết. - Chia ăn cho trẻ bát 1 ăn thức ăn mặn, chia cơm đều các bát sau đó chia thức ăn đều lên trên, nên chia dư 1-2 suất thức ăn mặn để dự phòng khi trẻ đánh đổ cơm hay thức ăn, bát thứ 2 chan canh cho trẻ, không chan canh lẫn thức ăn mặn của trẻ. - Xếp trẻ ăn nhanh và trẻ ăn chậm riêng. - Giới thiệu món ăn để kích thích dịch vị cho trẻ, trò chuyện với trẻ về lợi ích của từng món ăn vàkhi ăn đủ chất dinh dưỡng có trong 4 nhóm thực phẩm của món ăn, một số bệnh lý liên quan đến thói quen ăn uống không tốt (suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì, ngộ độc thực phẩm, sâu răng ), khuyến khích trẻ tự xúc ăn (trẻ nhà trẻ). - Luôn luôn có đầy đủ nước tinh khiết đóng chai cho trẻ.Trang bị cho mỗi dãy hành lang phòng học một cây nước nóng, lạnh phục vụ theo các ý muốn khác nhau của trẻ. + Trong khi ăn: - Tạo không khí thoải mái, dễ chịu, vui vẻ cho trẻ trong khi ăn. - Nhắc nhở trẻ về những hành vi văn minh trong ăn uống: Ngồi ngay ngắn khi ăn, ăn không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, nhai kỹ, không nói chuyện cười đùa khi ăn, không bốc thức ăn, không tranh giành đồ ăn, ho hắt hơi thì cần quay ra ngoài - Đối với trẻ nhà trẻ chưa thành thạo việc xúc, ăn chậm, giáo viên nhẹ nhàng động viên trẻ tự xúc ăn, thi thoảng bón cho trẻ. Đối với trẻ mẫu giáo, cô nhẹ nhàng giúp trẻ ăn nhanh, hết phần của mình. Lựa chọn thìa vừa với miệng trẻ, lượng thức ăn xúc vừa phải, nhắc trẻ nhai nuốt hết thức ăn rồi mới xúc tiếp. 18
  19. - Giáo viên cần để ý toàn bộ các trẻ khi đang ăn, tránh những nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ - Việc la mắng, dọa hay thậm chí đánh trẻ là không được bởi vì điều này sẽ khiến cho trẻ sợ bữa ăn, ăn không ngon miệng. Từ đó dễ trở thành biếng ăn. + Sau khi ăn. - Giáo viên dạy trẻ cất ghế cùng với bát, thìa vào nơi quy định, lau miệng, rửa tay sau khi đã ăn xong. Giờ ăn của lớp mẫu giáo 5 tuổi A5 * Tổ chức giờ ngủ cho trẻ. Để tổ chức tốt giờ ngủ cho trẻ ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành rà soát, kiểm kê toàn bộ đồ dùng chăn, chiếu, đệm, phản nằm gối của trẻ, thanh lý những đồ dùng, cũ, rách, hỏng, yêu cầu giáo viên phối hợp với phụ huynh mua bổ sung chăn gối, xốp, thảm, đảm bảo đủ đồ dùng phục vụ giờ ngủ của trẻ. Đồ dùng chăn, chiếu, gối được gấp gọn gàng, giặt rũ theo lịch đảm bảo luôn sạch sẽ, gối có ký hiệu riêng không cho trẻ dùng chung gối đầu. + Chuẩn bị trước khi ngủ: - Bố trí chỗ ngủ cho trẻ sạch sẽ yên tĩnh, mát mẻ về mùa hè,ấm áp về mùa đông, không cho trẻ nằm trực tiếp xuống sàn nhà, cho trẻ nằm trên phản. - Trước khi ngủ cô nhắc trẻ đi vệ sinh, hướng dẫn trẻ tự lấy gối nằm vào đúng chỗ, trẻ nhà trẻ cô giúp trẻ đi vệ sinh hướng dẫn trẻ lấy gối, cho trẻ nam và trẻ nữ nằm riêng để giáo viên dễ bao quát - Khi trẻ nằm ổn định cô điều chỉnh nhiệt độ điều hòa, quạt điện tốc độ phù hợp, buông rèm, tắt điện để giảm ánh sáng cho trẻ dễ ngủ,mùa đông cô đắp chăn cho trẻ, có thể hát hoặc cho trẻ nghe những bài hát ru, dân ca để trẻ dễ đi vào giấc ngủ, với trẻ khó ngủ cô cần ôm ấp, vỗ về để trẻ yên tâm dễ đi vào giấc ngủ 19
  20. + Trong khi ngủ - Trong khi trẻ ngủ cô giáo phải thức để bao quát trẻ, kịp thời phát hiện và xử lý các tình huống có thể xảy ra trong khi ngủ như: Trẻ ốm sốt, khó thở, đau bụng, buồn đi vệ sinh sửa tư thế cho trẻ khi ngủ như nằm sấp, gác chân lên bạn, trùm chăn kín đầu để trẻ ngủ thoải mái. Nếu trẻ có nhu cầu đi vệ sinh cô cho trẻ nhẹ nhàng thức giấc đi vệ sinh rồi vào chỗ ngủ tiếp, tránh ảnh hưởng đến các bạn xung quanh. Khi nghỉ ngơi giáo viên phải nằm gần cửa ra vào để dễ phát hiện trẻ có thể thức giấc đi ra ngoài. Thời gian ngủ của trẻ khoảng 150 phút, giáo viên chú ý cho trẻ đi ngủ đúng giờ, ngủ đủ giấc. + Sau khi trẻ ngủ dậy - Trẻ nào thức giấc trước cô cho trẻ dậy trước, cho trẻ ngồi riêng một chỗ không gây ồn ào đến các bạn khác, không đánh thức trẻ đồng loạt, đánh thức trẻ đột ngột trẻ dễ cáu bẳn, mệt mỏi. - Sau khi trẻ thức dậy hướng dẫn trẻ cất gối, trẻ mẫu giáo cùng cô thu dọn phòng ngủ, cho trẻ đi vệ sinh, vận động nhẹ nhàng sau giờ ngủ. Giờ ngủ của trẻ mẫu giáo lớp 5 tuổi A1 7. Biện pháp 7: Kiểm tra, công bằng trong đánh giá xếp loại - Chúng ta cần phải kiểm tra để biết được kế hoạch có đạt được hay không? Và đạt thì đạt đến mức độ nào? Mục đích của việc kiểm tra không phải nhằm vào kết quả xếp loại mà là để tư vấn, thúc đẩy người được kiểm tra phát huy khả năng của mình thực hiện công việc đạt hiệu quả cao nhất. Không để cá nhân lẫn vào công việc chung. Kiểm tra được thực hiện dưới nhiều hình thức. 20