SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_lam_quen_voi_tac_p.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
- BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1. Lời giới thiệu Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người” Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình, là những mầm non tương lai của đất nước. Đất nước có giàu mạnh phồn vinh là nhờ vào thế hệ trẻ chính vì vậy phải chăm sóc giáo dục trẻ thật tốt ngay từ khi trẻ còn ở độ tuổi mầm non Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, bắt đầu từ lứa tuổi mầm non sẽ hình thành và phát triển các tâm sinh lý và hoàn thiện con người. Trẻ em như trang giấy trắng viết gì vẽ gì là ở đôi bàn tay, tấm long và trí tuệ của cô giáo người mẹ thứ 2 của trẻ. Vì vậy nhà trường, lớp mẫu giáo phải là môi trường sư phạm tốt nhất cùng phối hợp giữa gia đình và nhà trường để giáo dục trẻ một cách khoa học. Giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống con người nhất là tuổi mầm non. Ca dao xưa có câu “Dạy con từ thủa còn thơ ” câu ca dao ấy đã đi vào lòng người và không thể nào quên. Mỗi chúng ta đều được lớn lên từ những tiếng ru dịu ngọt của ông bà cha mẹ, ngay từ lúc chào đời những tiếng ru êm dịu của bà của mẹ lại cất lên “Cháu ơi cháu ở với bà” Hoặc “Con cò lặn lội bờ sông” đã đi vào tâm hồn mỗi chúng ta và cùng ta lớn dậy. Lớn lên chút nữa ta lại được bay bổng trong thế giới cổ tích như được vui chơi những trò chơi gắn với những câu ca dao, đồng dao “Rềnh rềnh ràng ràng” hay “Dung dăng dung dẻ”. Chúng ta lớn lên bằng những tiếng ru ấy và cũng lớn lên bằng những câu chuyện ấy. Ta lớn lên về thể xác và cũng mở rộng dần đôi cánh của tâm hồn và tình cảm. Chính vì lẽ đó việc cho trẻ mầm non đặc biệt là trẻ ở độ tuổi mẫu giáo 4-5 tuổi làm quen với các tác phẩm văn học là hết sức quan trọng và cần thiết bởi vì: Thông qua văn học giúp cho trẻ nhận biết được thế giới xung quanh, mở rộng vốn hiểu biết của trẻ đối với thiên nhiên và cuộc sống xung quanh thông qua đó trẻ biết tích luỹ được những kinh nghiệm sống. Là một người giáo viên hàng ngày trực tiếp chăm sóc giáo dục thế hệ mầm non tương lai của đất nước. Tôi nhận thức rõ trong mọi thời đại giáo dục luôn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng cùng với một số ngành khác góp phần nâng cao đời sống xã hội của mỗi con người. Tuy nhiên với từng thời đại mà giáo dục sẽ được tổ chức kiểu này hay kiểu khác phù hợp với mỗi độ tuổi khác nhau. Mọi hoạt động học tập và vui chơi được tổ chức trong quá trình chăm sóc 1
- giáo dục trẻ ở trường mầm non có tính quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai cho trẻ. Đặc biệt là hoạt động dạy trẻ “Làm quen với tác phẩm văn học” là một hoạt động không thể thiếu được đối với trẻ ở lứa tuổi mầm non, vì từ khi lọt lòng mẹ đến lúc chập chững tập đi, tập nói, đến lúc trẻ biết viết, biết đọc thì văn học là chiếc cầu nối, là phương tiện dẫn dắt trẻ nói những tiếng nói, đi những bước đi đầu tiên, ngôn ngữ trau chuốt cho trẻ. Ca dao, chuyện kể là tấm gương mẫu mực về lời ăn tiếng nói cho trẻ học tập là phương tiện hữu hiệu trong việc giáo dục trẻ lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, tình yêu mến bạn bè, với những người thân, biết được việc làm tốt, biết yêu cái đẹp, cái thiện, ghét cái ác, phê phán những việc xấu, kính yêu Bác Hồ, thật thà, ngoan ngoãn, thích đi học Và còn là phương tiện hình thành các phẩm chất đạo đức trong sáng và thông qua đó mở rộng vốn hiểu biết của trẻ đối với cuộc sống xung quanh, trẻ biết tích luỹ được những kinh nghiệm sống, làm phong phú thêm vốn từ của trẻ, trẻ biết nói đủ câu, chính xác, biểu cảm. Chính vì lẽ đó việc cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học nói chung và đặc biệt là trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nói riêng là hết sức quan trọng và cần thiết. Xuất phát từ vấn đề trên bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp đứng lớp chăm sóc giáo dục các cháu 4-5 tuổi nên tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi” để nghiên cứu. 2. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi”. 3. Tác giả sáng kiến: - Họ và tên: Trần Thị Nguyệt. - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Tam Hồng – Yên Lạc – Vĩnh Phúc. - Số điện thoại: 0963018688 - Email: [email protected] 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trần Thị Nguyệt – Trường Mầm Non Tam Hồng – Yên Lạc – Vĩnh Phúc. 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Nghiên cứu trong phạm vi nhà trường về thực trạng việc tổ chức hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi làm quen với tác phẩm văn học trong chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non. 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 20 tháng 09 năm 2020 đến 25 tháng 03 năm 2021. 7. Mô tả bản chất của sáng kiến: * Về nội dung của sáng kiến. 2
- 7.1. Cơ sở lý luận 7.1.1. Một số khái niệm cơ bản. * Khái niệm tác phẩm văn học: Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật, cần giúp trẻ nhận biết các mối quan hệ biểu hiện giữa hoàn cảnh, trạng thái, tình huống và nhân vật; giữa lời kể, lời thuật và ngôn ngữ nhân vật. Giữa không khí, âm sắc, giọng điệu chung của tác phẩm văn học mà chưa yêu cầu trẻ phải nhớ hết mối quan hệ phức tạp. 7.1.2. Đặc điểm cảm thụ tác phẩm văn học của trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi Văn học là nghệ thuật ngôn từ cho nên việc cảm thụ tác phẩm văn học là một quá trình hoạt động tâm lý hết sức phức tạp. Nó gồm các hoạt động cảm giác, xúc giác, nhận thức và nó còn huy động cả thế giới tình cảm của con người. Qua nghiên cứu người ta thấy rằng, quá trình cảm thụ một tác phẩm văn học của trẻ được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Tri giác trực tiếp tác phẩm, tái tạo lại hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm và đồng chủ đạo trong giai đoạn này là tư tưởng của tác phẩm. Giai đoạn 2: Hiểu nội dung tư tưởng tác phẩm ở mức độ sâu hơn, nắm bắt được các ý nghĩa của bài thơ, câu truyện. Đây chính là cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả. Giai đoạn 3: Tìm hiểu ảnh hưởng của tác phẩm văn học đối với người đọc, người nghe. Đây là kết quả của quá trình cảm thụ tác phẩm văn học. Nhờ được chi giác liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc mà tác phẩm trở nên sống động, hoàn chỉnh. Tuy nhiên trẻ mới chỉ cảm thụ bằng trực giác qua câu văn giàu hình ảnh... Với vai trò là trung gian. Cô giáo cần phân tích, hướng dẫn, gợi mở cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học, để khơi gợi ở trẻ niềm hứng thú với câu truyện. Vì vậy, vấn đề của giờ học cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học cần tạo những điều kiện tiền đề cần thiết để cho trẻ cảm thụ được cái hay, cái đẹp của tác phẩm dưới sự hướng dẫn của cô giáo. Từ đó, góp phần bồi dưỡng tâm hồn và phát triển tính cách cho trẻ theo con đường riêng của văn học. Trẻ mầm non không thể cảm nhận được nội dung nghệ thuật của bài thơ câu chuyện, khi thiếu sự tác động của cô giáo và người lớn xung quanh. Bởi trẻ chưa biết đọc mà phải nhờ vào sự tổ chức, hướng dẫn của cô giáo qua giọng đọc kể của cô giáo làm cho tác phẩm văn học đến với các cháu trở thành nhân tố giúp trẻ phát triển tư duy, trí tưởng trợng, ngôn ngữ, thẩm mỹ, hình thành nhận cách và giáo dục đạo đức cho trẻ. 7.1.3. Vai trò của tác phẩm văn học đối với sự phát triển của trẻ 3
- Đối với trẻ mẫu giáo nói chung và mẫu giáo lớn nói riêng thông qua bộ môn làm quen với tác phẩm văn học sẽ giúp trẻ hiểu được nội dung tác phẩm, các nhân vật trong tác phẩm trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn. Sự cảm thông với nhân vật, sự lo lắng cho số phận của nhân vật của trẻ sẽ mang đặc điểm cá tính hơn. Sức mạnh của tác phẩm văn học thật vô cùng to lớn, góp phần mở rộng hiểu biết của trẻ về tự nhiên và xã hội. Trong quá trình cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm, bằng tài năng sư phạm cùng với nghệ thuật đọc và kể chuyện văn học của mình, cô giáo ở trường Mầm non sẽ tổ chức hướng trẻ vào những vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật tác phẩm, gây ấn tượng đầu tiên cho trẻ về hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn ngữ dân tộc. Bởi trẻ mầm non chưa biết đọc mà trẻ thường cảm nhận bằng cử chỉ, ánh mắt... Từ đó trẻ trở thành một chủ thể hoạt động văn học nghệ thuật một cách tích cực, sáng tạo và có thể hóa thân vào các vai diễn trong các trò chơi đóng kịch Chính điều đó làm nhân tố giúp trẻ phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ, thẩm mỹ, hình thành nhân cách và giáo dục đạo đức cho trẻ. 7.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu 7.2.1. Về nhận thức giáo viên. Kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy rằng, phần lớn giáo viên (90%) đã nhận thức được tầm quan trọng của việc cho trẻ 4-5 tuổi làm quen với tác phẩm văn học, một số ít giáo viên cho rằng có vai trò quan trọng (10%). Không có giáo viên nào coi nhẹ hay phủ nhận vai trò của việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Như vậy, giáo viên đã có nhận thức đúng đắn về vai trò của tác phẩm văn học đối với việc phát triển của trẻ 4-5 tuổi. Giáo viên đã đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, tuy nhiên những biện pháp mà giáo viên sử dụng vẫn chưa đạt được hiệu quả cao. 7.2.2. Về nhận thức của phụ huynh. Kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy một số phụ huynh đã có nhận thức đúng đắn về tác phẩm văn học đối với sự phát triển của trẻ. Đa số phụ huynh vẫn còn hạn chế trong việc nhận thức về tác phẩm văn học đối với sự phát triển của trẻ. Phụ huynh vẫn cho rằng trẻ 4-5 tuổi chưa cần thiết phải cho trẻ tiếp xúc nhiều, để trẻ lên tiểu học biết đọc, biết viết trẻ sẽ tự tìm hiểu. 7.2.3. Về tình hình của trẻ ở lớp. Qua kết quả điều tra đầu năm học thì mức độ trẻ hào hứng tham gia hoạt động làm quen với tác phẩm văn học của trẻ chưa cao, trẻ chủ yếu đạt ở mức độ khá và đạt. Có 4/30 trẻ đạt mức độ tốt chiếm 13%, 17/30 trẻ ở mức độ khá chiếm 57% và 9/30 trẻ ở mức độ đạt chiếm 30%. Tổng số trẻ ở mức độ khá và đạt chiếm 87%. Để thấy rõ mức độ mức độ trẻ hứng thú tham gia các hoạt động làm quen với tác phẩm văn học khi chưa áp dụng các biện pháp “nâng cao chất 4
- lượng cho trẻ 4-5 tuổi làm quen với tác phẩm văn học” tôi đã lập biểu bảng khảo sát 30 trẻ ở lớp 4 tuổi mà tôi phụ trách: * Đối với trẻ: Mức độ trẻ đạt được khi tham gia hoạt Số động làm quen với tác phẩm văn học Các tiêu chí lượng trước khi áp dụng biện pháp mới trẻ khảo sát Tốt Khá Đạt Trẻ hào hứng tham gia vào 30 5/30=17% 18/30=60% 7/30=23% hoạt động văn học. Trẻ thuộc thơ, truyện, ca dao, 30 3/30=10% 16/30=53% 11/30=37% đồng dao. Trẻ hiểu nội dung tác phẩm. 30 5/30=17% 18/30=60% 7/30=23% Khả năng nghe – đọc diễn 30 2/30=7% 16/30=53% 12/30=40% cảm. Trẻ phát triển ngôn ngữ, diễn 30 5/30=17% 17/30=57% 8/30=26% đạt tốt. * Thuận lợi và khó khăn trong việc “nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi làm quen với tác phẩm văn học” Qua quá trình điều tra và khảo sát về “chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi làm quen với tác phẩm văn học” tại trường mầm non tôi đang công tác. Để thực hiện đề tài này tôi nhận thấy có thuận lợi và khó khăn như sau: * Thuận lợi. Được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu về chuyên môn, xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non, tạo mọi điều kiện giúp tôi những nguyên vật liệu để làm đồ dùng dạy học và đồ chơi của các cháu Bản thân luôn nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, được trải nghiệm cọ sát với thực tế, được học tập và đào tạo qua trường lớp, luôn tìm tòi học hỏi và rút ra kinh nghiệm cho bản thân, có nhiều sáng tạo, có giọng kể hay, truyền cảm, nắm chắc phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học. 5
- Lớp học được trang bị một máy tính, ti vi, tranh truyện - thơ, các loại sách truyện tranh...Qua đó khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trẻ trực tiếp được quan sát trong tranh, hình ảnh động và lắng nghe âm thanh và cảm nhận sâu hơn, húng thú hơn với tác phẩm văn học. Trẻ mạnh dạn, tự tin, hứng thú, tích cực tham gia vào các hoạt động làm quen với văn học. * Khó khăn. - Một số trẻ chưa học qua mẫu giáo nhỡ nên còn thiếu tự tin và bỡ ngỡ còn chậm chạp, nhút nhát khi tham gia vào hoạt động làm quen với tác phẩm văn học. - Khả năng nhận thức của học sinh không đồng đều. - Số học sinh đông, diện tích lớp chật hẹp, ảnh hưởng đến việc tạo môi trường cho trẻ làm quen với văn học. - Qua kết quả điều tra lúc đầu khi chưa áp dụng các phương pháp trên thì tỉ lệ trẻ hào hứng tham gia vào hoạt động văn học của lớp tôi còn thấp: Từ thực trạng trên tôi đã mạnh dạn áp dụng những giải pháp sau: 7.3. Biện pháp mới sáng tạo. 7.3.1. Biện pháp 1: Kể chuyện diễn cảm. Khi đọc kể cô giáo phải nhìn xuống các cháu, theo dõi các cháu làm gì khi nghe cô đọc hoặc kể, cô kết hợp cử chỉ điệu bộ nét mặt nhằm cuốn hút, tạo hứng thú cho trẻ. Cô phải tìm hiểu truyện sẽ đọc hoặc kể để hiểu được tư tưởng, nghệ thuật trình bày của tác phẩm, phải tiến hành phân tích tác phẩm về mặt ngữ điệu và rèn luyện cách đọc. Cô giáo thường gắn kể với nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ vì thế cô giáo có thể thay đổi có dụng ý của câu, của tác phẩm bằng các cấu trúc đồng nghĩa. Ví dụ có thể truyền đạt không phải bằng hình thức đối thoại mà bằng lời nói gián tiếp hoặc ngược lại. Giáo viên có thể đọc và kể chuyện cho trẻ nghe. Cần phân biệt giữa đọc và kể chuyện. Khi đọc giáo viên phải đọc nguyên văn bài thơ, câu chuyện in trong sách. Đọc có thể theo sách hoặc thuộc lòng theo sách. Còn khi kể giáo viên truyền đạt tác phẩm một cách tự do nghĩa là không theo từng từ một. Giáo viên chỉ cần nắm chắc nội dung cơ bản, ngoài ra có thể đơn giản hóa truyện, rút ngắn số lượng các tình tiết, có thể giải thích khi kể, có thể sử dụng từ mới. Chuẩn bị cho giờ truyện kể được tốt cần đảm bảo những công việc sau: - Giúp cho trẻ tập luyện phát âm, tập cho trẻ nghe và đọc chính xác đọc rõ ràng, nhịp điệu chậm rãi. Trước khi cho trẻ tập nghe và đọc cô giáo phải cho trẻ nghe và đọc mẫu, cô giáo đọc chậm, rõ ràng, sau đó nghe và đọc nhanh dần. 6
- - Đánh dấu ngữ điệu của câu chuyện, tình cảm của giọng nói. Suy nghĩ về nghệ thuật nói trước trẻ, dáng điệu, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ theo tác phẩm. Muốn một giờ hoạt động văn học nghe và đọc đạt kết quả cao đòi hỏi cô giáo phải có giọng kể diễn cảm, biết ngắt nghỉ đúng câu, biết cách gây hứng thú. Bản thân tôi trước khi tổ chức hoạt động cũng phải tự luyện giọng kể, cách sử dụng tranh, sách tranh, rối mô hình... để giúp trẻ cảm thụ được tác phẩm văn học đó là một cách tốt nhất để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Đàn gà con”. Để trẻ hứng thú chú ý vào bài giọng đọc của cô phải đọc diễn cảm kết hợp với điệu bộ cử chỉ ánh mắt và phải ngắt nhịp đúng theo thể thơ. Để luyện phát âm đúng “l” và “n” cô giáo có thể dùng những bài thơ sau: Ví dụ: Mồng một lưỡi trai Mồng hai lá lúa Mồng ba câu liêm Mồng bốn lưỡi liềm Mồng năm liềm gặt Mồng sáu thật trăng Ví dụ: Nu na nu nống Cái cống nằm trong Con ong nằm ngoài Củ khoai chấm mật . Khi cho trẻ đọc và kể các tác phẩm văn học cần chú ý đến sự chính xác của các âm và cô cần sử dụng ngôn ngữ hoàn chỉnh. Giáo viên nên thường xuyên tổ chức cho các cháu nghe nhạc, nghe đài truyền thanh, nghe đĩa, nghe băng hình để phát triển vốn từ cho trẻ. Khi cho trẻ đọc và kể các tác phẩm văn học cô giáo dạy trẻ biết phân biệt nhịp điệu, ngữ điệu của tác phẩm. Bên cạnh đó cô còn sử dụng truyện, thơ ca phản ánh lại các sự kiện thực tế quen thuộc với trẻ và sự thay đổi giọng điệu là điều rất dễ hiểu đối với trẻ. Ví dụ: Bài thơ “Trăng ơi từ đâu đến” của Trần Đăng Khoa, cô phải dạy trẻ đọc chậm rãi, bộc lộ sự băn khoăn tự hỏi ở các câu: “Trăng ơi từ đâu đến ? ...Bạn nào đá lên trời ?” 7
- Bằng biện pháp cho trẻ đọc và kể các tác phẩm văn học sẽ giúp trẻ lĩnh hội diễn đạt phù hợp. Để tập cho trẻ biết thể hiện cảm xúc khi đọc, cô phải đọc mẫu thật diễn cảm cho trẻ nghe, lấy trẻ đọc hay làm mẫu cho các bạn bắt chước và sau đó nhận xét cách đọc của từng trẻ. Bên cạnh đó cô giáo đưa ra những câu hỏi giúp trẻ chú ý nói diễn cảm. Ví dụ: Con có thể nói như thế nào? Vì sao? Con có thể nói một cách khác được không?... Ở trẻ mẫu giáo lớn hình thức giúp trẻ đọc và kể tốt nhất là động lực đọc để biểu diễn cho mọi người nghe, từ đó thúc giục trẻ phải đọc hay, diễn cảm làm cho chính trẻ thể hiện được xúc cảm và người nghe thấy xúc động. Đối với phương pháp đọc kể diễn cảm trước hết cô giáo phải xác định được giọng đọc kể của từng tác phẩm thơ, truyện đọc kể phải bộ lộ được cảm xúc qua ánh mắt, cử chỉ điệu bộ minh hoạ phù hợp với nội dung câu chuyện. Bởi trong mỗi tác phẩm đều có một nội dung riêng với một tư tưởng, một chủ đề riêng và không phải bài thơ nào cũng có giọng đọc hay điệu bộ minh hoạ giống nhau. Chính vì điều đó bắt buộc giọng điệu của người kể, người đọc phải thay đổi phụ thuộc vào nội dung, tính cách của từng nhân vật trong tác phẩm. Ví dụ: Kể chuyện “Cáo Thỏ và Gà Trống” để gây hứng thú vào bài, tôi cho trẻ hát và vận động bài “Gà Trống thổi kèn” kết hợp với âm nhạc sôi động trẻ sẽ rất hứng thú hay cho trẻ chơi trò chơi “Bắt chước tạo dáng”. Chú Thỏ: Đưa 2 tay lên đầu và nhảy chụm hai chân. 7.3.2. Biện pháp 2: Làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo đưa vào hoạt động. Trò chơi hay đồ chơi đẹp, là sách giáo khoa, là đồ dùng đồ chơi, là vật không thể thiếu được trong cuộc sống của trẻ. Ngay từ khi trẻ còn nằm trong nôi trẻ đã biết hứng thú khi nghe tiếng súc xắc leng keng hay những quả bóng đỏ xanh, những con gấu, con thỏ búp bê, đồ chơi trong mắt trẻ luôn là thế giới thần tiên riêng biệt vì đồ chơi thỏa mãn nhu cầu giải trí vui chơi của trẻ vì vậy đồ chơi cho trẻ phải phong phú, đẹp, hấp dẫn và an toàn . Đồ chơi giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu giao tiếp. Hàng ngày trẻ được trò chuyện cùng búp bê, gấu bông, từ đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển và kích thích sự hứng thú giúp trẻ dễ nhớ, lâu quên và tạo không khí buổi học thoải mái, vui vẻ đạt kết quả cao nhưng với điều kiện cô giáo phải sự dụng đồ dùng đồ chơi đó sao cho đúng lúc đúng chỗ phù hợp với nội dung bài dạy, lứa tuổi trẻ. Vì thế hàng ngày hàng giờ tôi cùng các chị em trong trường, cùng phụ huynh học sinh sưu tầm các nguyên vật liệu thiên nhiên, tận dung những nguyên vật liệu sẵn có như chai, lọ, 8
- vải vụn sau đó dựa vào nội dung câu chuyện làm sa bàn, làm các nhân vật, con rối bằng xốp. Ví dụ: Làm các con vật bằng nguyên phế liệu. Từ các vỏ hộp sữa tôi đã trang trí thành những con vật đáng yêu, tô màu cho chúng. Ngoài ra bằng xốp tôi cũng cắt thành những con vật ngộ nghĩnh làm cho trẻ hứng thú hơn khi hoạt động Làm rối dẹt: Vẽ hình nhân vật vào giấy rồi tô màu, cắt dán vào bìa cứng để cô và trẻ dễ sử dụng. Làm rối ngắn tay: Lấy quả bóng làm đầu nhân vật, vẽ mắt, vẽ mũi, tai sau đó lấy bìa cứng cuộn lại làm thân lồng vào tay. Làm những con vật trong chuyện: bằng giấy dạ tôi đã cắt thành hình các con vật và tôi lấy kim, chỉ khâu chúng theo đường cắt để thành những con vật Ảnh góc văn học Với những đồ dùng, đồ chơi như trên khi dạy trẻ rất thích, rất chăm chú nghe cô kể chuyện, đọc thơ. Hoặc trẻ có thể dùng đồ dùng, đồ chơi để tập kể chuyện sáng tạo, đọc thơ diễn cảm. Mà khi làm đồ dùng đồ chơi tôi và trẻ cùng kết hợp làm, trẻ rất vui và hào hứng làm cùng cô. 7.3.3. Biện pháp 3: Đàm thoại, giảng giải từ mới và rèn luyện lời nói cho trẻ. Với biện pháp này khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học giáo viên không nên sử dụng quá nhiều trong tiết dạy, hình ảnh của tác phẩm văn học luôn luôn nói hay hơn, có tính chất khẳng định hơn tất cả những lời giải thích về nó. 9
- Chú ý giáo viên không quá say mê đàm thoại về tác phẩm và cả sự giải thích quá thừa. Cần đặt ra cho trẻ một số câu hỏi giúp trẻ hiểu nhân vật nào trong tác phẩm hành động đúng, những việc làm nào tốt, xấu để trẻ hình dung được rõ hơn ý nghĩa của câu truyện, có thể gợi ý cho trẻ tự đặt mình vào các trường hợp của nhân vật trong chuyện. Trẻ có khả năng xác định được ai tốt ai xấu trong chuyện. Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng hiểu động cơ hành động, đánh giá đúng phẩm chất đạo đức của nhân vật trong chuyện. Ví dụ: Khi kể chuyện “Tích chu” cô phải xác định giọng của từng nhân vật khác nhau. Khi kể giọng của “Bà” giọng phải nhẹ nhàng, còn giọng của cậu bé thì phải nhí nhảnh, còn giọng của “Bà tiên” thì phải nói vang lên. Ngoài ra trong khi đàm thoại giáo viên có thể cho trẻ xem những bức tranh vẽ, mô hình, những bức tượng nặn về các tác phẩm quen biết để giúp cho trẻ khi trả lời các câu hỏi của cô cảm thấy tự tin hơn. Ví dụ: Trong bài thơ “Giữa vòng gió thơm” Cô cho trẻ xem bức tranh “Em bé đang quạt mát cho bà” khi đó cô có thể đặt câu hỏi đàm thoại: + Bạn nhỏ đã làm gì khi thấy bà ốm?... Việc đàm thoại, giảng giải sẽ giúp trẻ hiểu rõ nội dung của tác phẩm văn học, đồng thời giúp cho trẻ biết cách trả lời các câu hỏi của cô sau khi nghe cô giáo kể lại câu truyện hay bài thơ. Thông qua đó sẽ phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ. Ví dụ: trong bài thơ “Bó hoa tặng cô”. Cô đàm thoại - Các bạn nhỏ trong bài thơ hái hoa tặng ai? (Tặng hoa cho cô giáo, nhân nhịp 8/3) - Bó hoa của bạn nhỏ có những loại hoa gì? Màu sắc như thế nào? (Trẻ trả lời) - Khi tặng hoa các bạn nhỏ hồi hộp như thế nào? - Tình thương của cô giáo đối với các bạn nhỏ như thế nào? - Các cháu sẽ làm gì cho cô giáo vui lòng (Trẻ kể) - Các bạn nhỏ trong bài thơ đã đi hái hoa tặng cô, bây giờ các con cùng đi hái hoa tặng cô nhé . Khi cô giáo đàm thoại với trẻ thì các câu hỏi của cô phải chính xác, diễn đạt trôi chảy phù hợp với từng bài, cô phát âm không ngọng. Cô chú ý nghe trẻ đọc và phát hiện ra trẻ nói ngọng, đọc sai để sửa cho trẻ bằng cách cô đọc lại để cho trẻ đọc theo nhiều lần và động viên trẻ “Con đọc gần giỏi rồi, con đọc lại một lần nữa thật rõ ràng cho cô và các bạn cùng nghe nào”. Cho trẻ thi đua giữa 10
- các tổ với nhau để phát hiện tổ nào đọc tốt hơn để khuyến khích động viên kịp thời. Khi đọc kể các tác phẩm văn học, giáo viên giúp trẻ hiểu tốt hơn, làm giàu vốn từ cho trẻ qua các từ mới bằng thủ pháp như: Giải thích cho trẻ những từ khó, giúp trẻ hiểu các từ mới trong tác phẩm và đặc biệt phải chú ý đến các cấu trúc của tác phẩm văn học. Bên cạnh sự giải thích từ mới, từ khó nếu không giảng giải thì trẻ sẽ không hiểu trọn vẹn tác phẩm . Ví dụ: Những từ như: “Ầm ĩ, rung rinh .. ” Ngoài ra có rất nhiều từ không cần giải thích như những từ đánh giá đạo đức của nhân vật. Ví dụ: Những từ như: “Nhát gan, dũng cảm, chăm chỉ ” Bên cạnh đó những từ đánh giá mối quan hệ giữa người và người. Ví dụ: Những từ như: “Quan tâm, chăm sóc, yêu thương ” Có thể nói rằng khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học mà cô giáo không đàm thoại, trích dẫn giảng giải thì việc trẻ hiểu nội dung của bài là rất khó. Chính vì vậy việc đàm thoại, giảng giảng từ mới, nội dung tác phẩm là rất quan trọng. Bởi qua đó trẻ hiểu được những nội dung ấy như là tổng kết sự đánh giá những nhân vật, những mối quan hệ giữa các nhân vật trong quá trình trẻ cảm thụ các tác phẩm văn học. Đặc biệt hơn để rèn luyện lời nói cho trẻ được chuẩn, không ngọng và đủ câu thì cô giáo có thể nói trước và cho trẻ nhắc lại nhiều lần hoặc cho trẻ khác giúp đỡ các bạn. Sau khi thực hiện biên pháp này, tôi thấy trẻ rất hứng thú học bài chất lượng về môn làm quen với văn học tăng lên khá rõ, các cháu rất thích học môn này. Rất mạnh dạn tham gia vào các hoạt động không chỉ có làm quen với văn học mà ở cả các môn học khác. Quan điểm giáo dục trẻ theo hướng đổi mới giáo viên là người hướng dẫn, tạo cơ hội cho trẻ hoạt động vui chơi tìm tòi khám phá. Trẻ hoạt động không bị áp đặt để phát huy năng lực bản thân, được trao đổi, được nhận xét nên trẻ trở nên năng động hơn. 7.3.4. Biện pháp 4: Đọc lại tác phẩm văn học hoặc một phần nào đó của tác phẩm văn học. Đối với trẻ, giáo viên không chỉ đọc, kể một lần các tác phẩm mà phải đọc, kể hai ba lần. Có như vậy trẻ mới nhớ được tên, nội dung, ngôn ngữ của tác phẩm văn học. Khi cho trẻ đọc lại tác phẩm văn học hoặc một bộ phận nào đó của tác phẩm văn học có thể tiến hành như sau: + Thơ, truyện, đồng dao được giáo viên đọc và kể một cách diễn cảm, kết hợp với cử điệu bộ, cử chỉ nét mặt. 11
- + Để cho trẻ một phút để chúng suy nghĩ, rung cảm với tác phẩm được đọc và được kể, sau đó giáo viên hỏi chúng có đọc lại nữa không? + Giáo viên thoả mãn yêu cầu của trẻ và đọc lại văn bản. Có thể đọc lại ba đến bốn lần, nhưng không làm cho trẻ nhàm chán. Giáo viên phải theo dõi trẻ nếu thấy trẻ không chú ý nữa phải ngừng đọc và kể. Có thể đọc và kể tác phẩm vào một lần khác trẻ sẽ nghe một cách hứng thú hơn. Ở những tiết học đọc và kể các tác phẩm văn học, trẻ nghe và nhớ không chú tâm (hoàn toàn hoặc một phần nào đó) mặc dù mục đích nhớ các cháu không đặt ra đó là trí nhớ không chủ định. Ở tuổi mẫu giáo, ghi nhớ không chủ định giữ vị trí chủ yếu. Nhưng trẻ cần phải học nhớ vì rằng trẻ không biết tự mình cố gắng để nhớ có chủ định. Để tích cực hoá trẻ đọc lại tác phẩm văn học hoặc một phần nào đó của tác phẩm văn học thì các bài thơ, câu truyện phải có tính nhạc, phải đẹp về hình tượng, có nội dung đạo đức tốt, phải đem đến cho trẻ niềm vui, tính thẩm mỹ, sự thích thú để sống lại những tình cảm mà bài thơ, câu truyện đó gợi ra. Khi đọc lại tác phẩm văn học hoặc một phần nào đó của tác phẩm văn học cho phép trẻ nhớ nó theo từng phần. Tiết học có thể bổ sung bằng những công việc khác nhau để trẻ đỡ mệt mỏi. Ví dụ: Cho trẻ nhớ lại các bài thơ đã học trước đây như “Giúp bà”. Cô giáo cần biết cháu nào có trí nhớ tốt, cháu nào nhớ chậm để giúp đỡ. Cô giáo cần động viên trẻ bằng cái nhìn, cử chỉ, nhắc từ, ngữ điệu của câu thơ, bài thơ Giáo viên giúp trẻ nhớ lại cốt truyện, nhớ lại những hình ảnh nào đó của tác phẩm văn học. Ví dụ: Mô tả đối tượng, mô tả hành vi của nhân vật nào đó thì giáo viên chọn những câu từ, với ngôn ngữ giàu tính chất biểu cảm. Ví dụ: Khi đọc câu chuyện “Tấm Cám” giáo viên cho trẻ nhớ lại những câu như: (bống bống bang bang, mày ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người). Hay (Thị ơi, thị hỡi ! Thị rụng bị bà , thị thơm bà ngửi chứ bà không ăn). Trong mọi tiết học đều có thể sử dụng biện pháp đọc lại tác phẩm văn học hoặc một phần nào đó của tác phẩm văn học, có thể là những bài đã học, những bài chưa học theo từng đề tài bài dạy cô giáo đưa văn học đi vào lòng trẻ cũng rất nhẹ nhàng, gần gũi mượt mà. Đối với biện pháp đọc lại tác phẩm văn học hoặc một phần của tác phẩm văn học trước hết cô giáo phải xác định được giọng đọc kể của từng tác phẩm thơ chuyện, đọc kể phải bộc lộ được cảm xúc qua ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ minh hoạ phù hợp với nội dung câu chuyện. Bởi trong mỗi tác phẩm văn học đều có một nội dung riêng, một chủ đề riêng. 12
- 7.3.5. Biện pháp 5: Sử dụng đồ dùng trực quan và tạo môi trường học tập, rèn luyện cho trẻ. Theo kinh nghiệm của bản thân tôi thấy rằng hợp lý nhất là đọc cho trẻ nghe tác phẩm và sau đó xem tranh ảnh minh hoạ hoặc đồ dùng trực quan. Sau khi tác phẩm được đọc, cô tóm tắt nội dung của tác phẩm và chỉ ra tranh ảnh minh hoạ cho tác phẩm đó, sau khi trẻ được xem tranh minh hoạ giáo viên sẽ đọc lại tác phẩm một lần nữa để giúp trẻ dễ hiểu ngôn ngữ của tác phẩm hơn. Từ đó trẻ nhận ra các nhân vật, vật thể, sự kiện và lời nói của nhân vật trong tác phẩm. Ví dụ: Ai đấy ?, Cái gì?, Ở đâu?.. Dùng tài liệu minh hoạ, đồ dùng trực quan tương ứng câu của tác phẩm với các bức tranh. Ví dụ: Những từ, những câu nào phù hợp với bức tranh này? Tại sao con thích bức tranh này?... Giáo viên có thể yêu cầu trẻ gọi tên các nhân vật trong truyện và các đối tượng mà giáo viên chỉ định trên tranh. Hoăc giáo viên đọc một đoạn và yêu cầu trẻ chỉ ra phần nào của bức tranh tương ứng với cái cần đọc. Ví dụ: Cô đọc một đoạn truyện “Hai anh em” rồi yêu cầu trẻ: “Con hãy chỉ vào tranh người anh được ông tiên tặng cho quả bí ngô?” Ở trẻ mẫu giáo lớn có khả năng đánh giá những bức tranh minh hoạ có căn cứ hơn nếu dạy chúng biết so sánh những bức tranh minh hoạ của các hoạ sỹ khác nhau về cùng một tác phẩm. Biện pháp dùng tài liệu minh hoạ, đồ dùng trực quan như: Xem phim về các đề tài truyện cổ tích và chuyện kể. Chúng ta có thể cho trẻ xem phim về những truyện cổ tích và truyện kể bằng máy chiếu bằng giọng kể của giáo viên hoặc người kể chuyện. So với tranh minh hoạ thì phim không những có hình ảnh mà còn có cả tiếng nói. Cho nên có thể nói xem phim là hình thức giúp trẻ cảm nhận tiếng mẹ đẻ và nâng cao được chất lượng cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học một cách tốt nhất. Ví dụ: Dạy truyện “Sự tích hoa hồng”. Cô có thể cho trẻ xem đoạn phim về loài hoa hồng. Qua đoạn phim ngắn đó trẻ sẽ cảm nhận rõ hơn về loài hoa hồng. Như chúng ta đã biết trẻ Mầm non nói chung và trẻ 4- 5 tuổi nói riêng tư duy của trẻ trực quan hành động trẻ chỉ tập trung chú ý và ghi nhớ những gì mà trẻ cảm thấy thích thú vì thế giáo viên nên chuẩn bị đồ dùng học tập gồm các loại tranh ảnh mô hình, vật thật đầy đủ, đa dạng, phong phú, sinh động phù hợp với nội dung của từng bài dạy. Ví dụ: Bài thơ “Em yêu nhà em”, sử dụng tranh ảnh kết hợp mô hình 13
- Mô hình bài thơ “Em yêu nhà em” Ví dụ: Bài thơ “Cây dừa”, sử dụng tranh ảnh kết hợp mô hình Chuyện: “Truyện của dê con”, sử dụng tranh ảnh kết hợp rối Thơ: “Bác bầu bác bí” sử dụng vật thật Ngoài ra tôi luôn chú ý tạo môi trường học tập và rèn luyện cho trẻ hàng ngày như: tôi luôn tận dụng diện tích và không gian phòng học để trưng bày các dụng cụ kể chuyện, khung sân khấu, sắp đặt tranh và các con rối sao cho trẻ dễ sử dụng, phù hợp với trẻ nhằm kích thích trẻ hoạt động tích cực hơn. Ví dụ: Dạy kể truyện “Cáo thỏ và gà trống” tôi đã trưng bày rất nhiều các hình ảnh các con vật có liên quan đến nội dung câu truyện như: Cáo, thỏ và gà trống. Qua các hình ảnh đó trẻ sẽ dễ nhớ tên và nội dung câu chuyện. Từ đó trẻ nhanh thuộc truyện và làm tiền đề giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Để thu hút sự chú ý và phát huy tính sáng tạo của trẻ tôi đã sử dụng các loại rối trang phục, mô hình, học cụ, các nguyên liệu mở như: thanh trẻ, bìa cứng, gỗ, hộp xốp, đất ...để làm thành những con vật xinh xắn, trẻ cũng có thể sử dụng được để kể chuyện theo ý thích . Ví dụ: Kể chuyện “Dê con Nhanh trí’’ để gây hứng thú cho trẻ tôi chuẩn bị một sân khấu rối, các con rối được làm bằng vải vụn được cải biên màu sắc rực rỡ. Ví dụ: Dạy thơ “Nàng tiên cá” để làm trang phục cho trẻ tôi dùng quần áo để trẻ hoá thân vào các nhân vật nhập vai . Khi sử dung biện pháp này tôi thấy trẻ học bài tích cực, hứng thú trẻ biết yêu cái đẹp ghét điều xấu. Thông qua các câu chuyện trẻ biết thêm được rất nhiều vốn từ cho riêng mình. 7.3.6. Biện pháp 6: Kết hợp với các bộ môn khác. 14
- Theo phương pháp dạy học tích hợp với môn làm quen văn học có thể lồng ghép, kết hợp với tất cả các môn khác điều đó sẽ giúp cho các bộ môn khác trở lên sinh động hơn và trẻ hiểu được nhiều vốn từ hơn. Ví dụ: Môn âm nhạc vận động theo nhạc bài hát bài “Củ cải trắng” sáng tác “Hoàng Long” Vào đầu bài cô sẽ kể đoạn truyện: “Nhổ củ cải” Ví dụ: Môn tìm hiểu môi trường xung quanh: “Sự kì diệu của nước” tôi sẽ câu chuyện “Giọt nước ti xíu”. Qua đó trẻ sẽ biết rõ hơn về tính chất cũng như sự kì diệu của nước. Ví dụ: Môn toán: Tên bài dạy : “Xác định phía phải – trái”. Cô sẽ kể đoạn chuyện “Tay phải tay trái”. Ví dụ: Môn tạo hình: Vẽ “Con côn trùng”. Cô sẽ đọc bài thơ “Ong và Bướm”. Ví dụ: Hoạt động ngoài trời: Dạy trẻ kể về những sự vật hiện tượng xung quanh cuộc sống hàng ngày, những điều trẻ đã biết, tưởng tượng... trẻ phải tự lựa chọn nội dung, hình thức, ngôn ngữ, sắp xếp chúng theo một trình tự nhất định. Tôi chủ yếu tập cho trẻ kể theo dạng: Kể chuyện miêu tả, kể chuyện theo chủ đề như: “Con hãy miêu tả hiện tượng thời tiết” trẻ sẽ tự miêu tả: Trời âm u, mây đen, gió thổi mạnh trời sắp mưa.... Qua biện pháp này tôi thấy trẻ học tích cực, phát huy được tính tư duy, tưởng tượng và sự sáng tạo của trẻ. Trẻ hiểu và nắm được rất nhiều vốn từ. 7.3.7. Biện pháp 7: Tổ chức ôn luyện mọi lúc mọi nơi, thông qua ngày lễ, ngày hội. Ôn luyện mọi lúc mọi nơi cũng là biện pháp giúp trẻ ổn định, thông qua cách hoạt động tổ chức ngày lễ hội tổ chức cho trẻ hoạt động kể chuyện, đóng kịch, theo một chương trình biểu diễn văn nghệ mà 100% trẻ được tham gia nhằm giúp trẻ hứng thú với bộ môn làm quen với văn học thể loại truyện kể cho trẻ. Ví dụ: Ngày hội 8-3 trẻ kể chuyện về “Cô bé quàng khăn đỏ”, Truyện “Sự tích bông hoa cúc trắng”, Truyện “Cô bé hoa hồng”, Thơ “Bó hoa tặng cô” Ví dụ: Ngày tết 1-6 kể về “Bác Hồ với thiếu nhi” Ví dụ: Ngày rằm trung thu trẻ kể chuyện “Sự tích Hằng Nga và anh cuội”, “Sự tích cung trăng”... Ví dụ: Ngày 22-12 trẻ kể chuyện sáng tạo về chú bộ đội, hoặc hội thi bé kể chuyện giỏi. Với trẻ mầm non hoạt động chung chiếm một thời gian rất ngắn so với thời gian của các hoạt động khác. Do đó tôi đã tận dụng thời gian đón trẻ, trả trẻ, hoạt động ngoài giờ, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoại khóa hay trong hoạt động chuyển tiếp để giới thiệu, ôn luyện các bài thơ, bài đồng dao, câu 15
- chuyện. Qua đó sẽ giúp trẻ yêu văn học, tích lũy nhiều vốn từ và mạnh dạn trong giao tiếp. Ví dụ: Khi trẻ học xong tiết tạo hình vẽ “Ô tô” trước khi bước vào giờ hoạt động khác tôi sẽ cho trẻ đọc bài thơ để trẻ giúp trẻ thư giãn như bài thơ “Đèn giao thông” Ví dụ: Khi cho trẻ đi tham quan vườn bách thú tôi cho trẻ đọc bài thơ “Vè động vật”, đồng dao “Con voi”... Ví dụ: Thăm lăng Bác Hồ tôi cho trẻ đọc bài thơ “Nhớ ơn Bác”, khi ngồi trên xe tôi sẽ kể chuyện hay cho trẻ nghe các câu chuyện về Bác Hồ. Qua đó trẻ hiểu rõ hơn và dành những tình cảm yêu quý đối Bác Hồ.... Khi thực hiện biện pháp này tôi thấy trẻ biết yêu cái đẹp, yêu văn học thích đọc thơ – kể chuyện đặc biệt trẻ mạnh dạn tự tin trong giao tiếp. 7.3.8. Biện pháp 8: Công tác phối kết hợp với phụ huynh. Đây là một trong các biện pháp rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng làm quen tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo. Chính vì vậy mà tôi thường xuyên trao đổi với các bậc phụ huynh qua giờ đón trả - trẻ về tình hình sự nhận thức, đặc điểm ngôn ngữ của trẻ. Thông qua đó các bậc phụ huynh nắm được đặc điểm, sự nhận thức của con em mình để cùng kết hợp với cô giáo đưa ra các biện pháp sao cho phù hợp và đạt hiệu quả. Ví dụ: Cháu Vinh trong lớp nói rất ngọng từ “Con” thành từ “on”. Tôi đã gặp trực tiếp phụ huynh để trao đổi cùng kết hợp với cô giáo để sửa cho cháu. Ví dụ: Trẻ phát âm ngọng r-s, l-n...Tôi cũng đã trao đổi với các bậc phụ huynh để cùng sửa ngọng cho trẻ bằng cách người lớn sẽ phát âm chậm, rõ ràng.... Khi tổ chức các chuyên đề “Làm quen với tác phẩm văn học” tôi đã mời các bậc phụ huynh đến tham dự. Từ đó các bậc phụ huynh sẽ hiểu rõ hơn về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ, cũng như tầm quan trọng của bộ môn làm quen với tác phẩm văn học đối với sự phát triển của trẻ. Qua đó các bậc phụ huynh sẽ thông cảm và chia sẻ với cô giáo khi tổ chức tiết dạy. Ví dụ: Chuyên đề của lớp dạy thơ “Làm bác sĩ” Tôi đã mạnh dạn mời phụ huynh đến tham dự buổi chuyên đề. Kết thúc buổi chuyên đề tôi đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ các bậc phụ huynh. Để tiết dạy làm quen với tác tác phẩm văn học được tốt, tôi sẽ cung cấp các tài liệu có liên quan đến bài dạy để cùng phối kết hợp với các bậc phụ huynh về nhà dạy trẻ. Ví dụ: Dạy truyện “Dê con nhanh trí” tôi sẽ pho to cho các phụ huynh hình ảnh câu chuyện để về nhà các cháu được làm quen với câu truyện đó qua các hình ảnh. 16
- Thông qua các buổi họp phụ huynh đầu năm, giữ năm và cuối năm. Tôi sẽ tuyên truyền trao đổi với các bậc phụ huynh về tình hình nhận thức và sự phát triển ngôn ngữ của từng trẻ. Từ đó cô giáo và gia đình cùng nhau đưa ra các biện pháp phù hợp để dạy trẻ. Tôi trao đổi và vận động phụ huynh cố gắng dành thời gian để tâm sự với trẻ và lắng nghe trẻ nói, khi trò chuyện với trẻ phải nói rõ ràng mạch lạc, tốc độ vừa phải để trẻ nghe cho rõ, cha mẹ người thân phải cố gắng phát âm đúng cho trẻ bắt chước. Khuyến khích phụ huynh cung cấp kinh nghiệm sống cho trẻ. Tránh không nói tiếng địa phương, cần tránh cho trẻ nghe những hình thái ngôn ngữ không chính xác. Vận động phụ huynh hỗ trợ vật liệu , nguyên liệu như: giấy, sách, những lọ nhựa, quần áo cũ, vải vụn, đồ dùng, đồ chơi để phục vụ tiết dạy. Ví dụ: Khi dạy truyện “Tích chu”. Tôi sẽ vận động phụ huynh ủng hộ các loại xốp, vải vụn, bìa cát tông.....để làm dối và sân khấu dối. Xây dựng góc tuyên truyền sao hấp dẫn, sinh động, phù hợp với trẻ, với nội dung chủ đề. Ví dụ: Chủ đề : Thế giới thực vật, tết và mùa xuân, bảng tuyên truyền có những hình ảnh về tết và mùa xuân, câu thơ, câu truyện, bài hát, đồng dao...có tổ chức giao lưu giữa lớp với phụ huynh. Tuyên truyền góc chơi đặc biệt góc học tập, thường thay đổi tranh ảnh để lôi cuốn trẻ, giáo viên tích cực giao lưu với phụ huynh vào giờ đón và trả trẻ trao đổi về trẻ trong khi kể chuyện đọc truyện trò truyện giúp cho trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc . Về khả năng áp dụng của sáng kiến: Áp dụng sáng kiến trên tôi thấy thuận tiện, mang lại hiệu quả cao. Sáng kiến này có khả năng áp dụng trực tiếp với trẻ 4-5 tuổi của trường mầm non nơi tôi đang công tác và có thể áp dụng rộng rãi vào các lớp 4-5 tuổi trong toàn ngành. Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. 8. Những thông tin cần được bảo mật: Không có. 9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến. - Cơ sở vật chất, Môi trường lớp học đảm bảo an toàn thân thiện với trẻ. có cơ bản đủ trang thiết bị dạy và học cho cô và trẻ như: Máy tính, máy chiếu, con giống, con dối, tranh ảnh,.... - Giáo viên: Tâm huyết có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề yêu trẻ, tích cực học hỏi, vận dụng kiến thức từ lý thuyết vào thực tiễn. 17
- - Các bậc phụ huynh học sinh quan tâm, phối hợp chặt chẽ với giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. - Các tài liệu, học liệu liên quan đến đề tài cho trẻ và giáo viên tham khảo. 10. Đánh giá lợi ích thu được 10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: Sau quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, qua các tiết dạy trực tiếp trên lớp, trẻ lớp tôi rất hào hứng tham gia hoạt động học tập. Trẻ rất thích nghe kể truyện, đọc thơ, biết đọc thơ diễn cảm, thuộc nhiều truyện và kể rất hay, ngôn ngữ của trẻ rõ ràng mạch lạc hơn, trẻ hứng thú tham gia đóng kịch các nhân vật trong truyện, tự tin mạnh dạn hơn nhiều so với trước đây. Để thấy rõ kết quả này tôi đã lập biểu bảng so sánh để khảo sát 30 trẻ tại trong tổng giai đoạn: * Đối với trẻ: Mức độ trẻ đạt Mức độ trẻ đạt được khi tham gia được khi tham gia hoạt động làm hoạt động làm Các tiêu chí quen với tác quen với tác Cấp độ so sánh phẩm văn học phẩm văn học sau trước khi áp dụng khi áp dụng biện biện pháp mới pháp mới Trẻ hào hứng tham Tốt: 5/30=17% Tốt: 20/30=67% Tốt: Tăng 50% gia vào hoạt động Khá: 18/30=60% Khá: 6/30=20% Khá: Giảm 40% văn học. Đạt: 7/30=23% Đạt: 4/30=13% Đạt: Giảm 10% Trẻ thuộc thơ, Tốt: 3/30=10% Tốt: 18/30=60% Tốt: Tăng 50% truyện, ca dao, đồng Khá: 16/30=53% Khá: 7/30=23% Khá: Giảm 30% dao. Đạt: 11/30=37% Đạt:5/30=17% Đạt: Giảm 20% Trẻ hiểu nội dung tác Tốt: 5/30=17% Tốt: 20/30=67% Tốt: Tăng 50% phẩm. Khá: 18/30=60% Khá: 6/30=20% Khá: Giảm 40% Đạt: 7/30=23% Đạt: 4/30=13% Đạt: Giảm 10% Khả năng nghe – đọc Tốt: 2/30=7% Tốt: 18/30=60% Tốt: Tăng 53% diễn cảm. Khá: 16/30=53% Khá: 9/30=30% Khá: Giảm 23% Đạt: 12/30=40% Đạt:3/30=10% Đạt: Giảm 30% 18
- Trẻ phát triển ngôn Tốt: 5/30=17% Tốt: 20/30=67% Tốt: Tăng 50% ngữ, diễn đạt tốt. Khá:17/30=57% Khá: 6/30=20% Khá: Giảm 37% Đạt: 8/30=26% Đạt: 4/30=13% Đạt: Giảm 13% Qua việc khảo sát trong hai lần, lần một vào tháng 9/2020, lần hai vào tháng 3/2021 đã cho thấy tỉ lệ đạt tốt cao. Trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động làm quen với văn học nhanh thuộc truyện, thuộc thơ, biết đọc kể diễn cảm, kỹ năng giao tiếp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc có nhiều tiến bộ. * Đối với cha mẹ trẻ: Nhiều phụ huynh đã tích cực phối hợp với giáo viên trong việc cho trẻ làm quen với văn học và chữ viết bằng việc sử dụng các tờ rơi để ôn luyện, bằng các trò chơi để củng cố cho trẻ, tích cực hưởng ứng sáng tác và sưu tầm thơ truyện. * Đối với giáo viên: Qua việc thực hiện đề tài này, kết quả trên trẻ cho thấy hiệu quả của việc thay đổi, vận dụng một số hình thức cho trẻ làm quen với văn học và là rất cần thiết và không thể thiếu trong quá trình tổ chức hoạt động của cô và trẻ. Tôi thấy việc thực hiện đề tài này không chỉ phù hợp với lớp tôi mà còn có thể triển khai ở các lớp mẫu giáo lớn khác nói riêng cũng như các lứa tuổi mẫu giáo nói chung và có thể tiếp tục thực hiện trong những năm sau. Việc nghiên cứu đề tài này đã giúp tôi dễ dàng trong việc thực hiện các yêu cầu, kỹ năng cần đạt phù hợp với trẻ 4-5 tuổi, tạo cho trẻ niềm vui, sự hứng thú khi tham gia các hoạt động cũng như tạo sự gần gũi, yêu thương giữa cô và trẻ. Sau một thời gian nghiên cứu và thử nghiệm đề tài, tôi thấy việc lựa chọn hình thức cho trẻ làm quen với văn học là rất quan trọng. Nó quyết định đến sự thành công của giáo viên khi tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, đồng thời giáo viên cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm sau mỗi lần tổ chức những hoạt động đó. Và trong những năm tiếp theo, khi tiếp tục thực hiện đề tài này, kết quả trên trẻ cũng như mục đích của các hoạt động sẽ đạt tốt hơn. Tôi thấy rằng vận dụng một số hình thức đó sẽ giúp cho trẻ năng động, tích cực, tự tin, mạnh dạn hơn trong cuộc sống, vốn kinh nghiệm, vốn hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh, về tình cảm, về mối quan hệ trong xã hội phong phú hơn. Đặc biệt là khả năng cảm thụ các tác phẩm văn học, khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm ở trẻ được tiến bộ rõ rệt. Thông qua các tác phẩm văn học giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, làm phong phú vốn từ và khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ. Đa số trẻ đã thuộc tác phẩm và thể hiện tác phẩm diễn cảm, rõ ràng và 100% số trẻ rất hứng thú với các hoạt động có liên quan đến văn học. Từ những vốn kinh nghiệm tích luỹ ấy, tôi đã áp dụng và đã đạt được hiệu quả cao ở lớp mình nhằm hình thành ở trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển toàn diện, hài hoà, đó là sự phát triển về thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ và thể lực trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Góp phần đào tạo thế hệ trẻ, chủ nhân 19
- tương lai của đất nước thành những con người phát triển toàn diện, vì trẻ em hôm nay là thế giới của ngày mai. Chúng ta hãy hành động bằng những việc làm cụ thể để bảo vệ và giữ gìn di sản văn hoá tinh thần của dân tộc. Có như vậy một thế giới trẻ thơ mới thực sự được phát triển toàn diện về mọi mặt Đức - Trí - Thể - Mỹ. Có thể những giải pháp trên chưa phải là giải pháp có hiệu quả tuyệt đối nhưng đối với bản thân tôi nó đã mang lại kết quả tương đối tốt, nó làm thay đổi chất lượng hoạt động làm quen văn học trong lớp. Chất lượng học sinh làm quen với tác phẩm văn học được nâng cao, phụ huynh quan tâm tới việc hết hợp giáo dục con trẻ. Trẻ hứng thú, hoạt bát, nhanh nhẹn, giao tiếp mạnh dạn hơn, sử dụng vốn từ có biểu cảm, tinh tế hơn.. 10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến của tổ chức, cá nhân. Đề tài đưa ra có tính mới, sáng tạo, logic khoa học, câu từ ngắn gọn, xúc tích, đảm bảo tính vừa sức với trẻ và phù hợp với tình hình thực tế tại trường. Các giải pháp đưa ra dễ hiểu, dễ vận dụng trong thực tế và đạt được hiệu quả cao khi sử dụng như: Khả năng cảm thụ văn học của trẻ được nâng cao, vốn từ của trẻ tăng lên rõ rệt, trẻ tự tin trong giao tiếp, trẻ mạnh dạn hơn. Trẻ thích xem sách và khám phá thế giới xung quanh thông qua sách và các câu chuyện mà trẻ được nghe, được làm quen. Thông qua hoạt động làm quen văn học trẻ linh hoạt, nhanh nhẹn và tiếp thu các kiến thức ở các hoạt động học khác một cách dễ dàng hơn. Ngoài ra khi thực hiện đề tài này giúp giáo viên tiết kiêm được rất nhiều thời gian, sức lực và kinh phí. Hiện nay đề tài "Một số biện pháp nâng cao chất lượng làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi” đã và đang được xây dựng và thực hiện nhân rộng ra trong toàn trường đối với trẻ mẫu giáo lớn 4-5 tuổi tại trường mầm non. Sáng kiến này có thể áp dụng rộng rãi ở các lớp 4-5 tuổi trong các trường mầm non, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong toàn ngành. 11. Danh sách những cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiên lần đầu. STT Tên tổ chức cá nhân Địa chỉ Phạm vi/ Lĩnh vực áp dụng sáng kiến. 1 Cô và trẻ các lớp 4 tuổi Trường mầm Nghiên cứu lĩnh vực “Làm quen non Tam với tác phẩm văn học”. Và phạm Hồng vi áp dụng trực tiếp cho trẻ 4-5 tuổi trường mầm non 20

