SKKN Một số biện pháp giáo dục thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày cho trẻ 24-36 tháng tuổi
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giáo dục thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày cho trẻ 24-36 tháng tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giao_duc_thoi_quen_tu_phuc_vu_trong_si.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giáo dục thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày cho trẻ 24-36 tháng tuổi
- UBND HUYỆN CAM LỘ TRƯỜNG MẦM NON HOA SEN BÁO CÁO SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC THÓI QUEN TỰ PHỤC VỤ TRONG SINH HOẠT HẰNG NGÀY CHO TRẺ 24-36 THÁNG TUỔI Nhóm tác giả: LÊ THỊ NGỌC HÀ, LÊ THỊ AN Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường mầm non Hoa Sen, huyện Cam Lộ Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Mẫu giáo Cam Lộ, tháng 5 năm 2024
- 1 UBND HUYỆN CAM LỘ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG MẦM NON HOA SEN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Cam Lộ, ngày 10 tháng 5 năm 2024 BÁO CÁO SÁNG KIẾN - Nhóm tác giả: Lê Thị Ngọc Hà, Lê Thị An - Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học sư phạm mầm non - Chức vụ: Giáo viên - Đơn vị công tác: Trường mầm non Hoa Sen - Tên sáng kiến: Một số biện pháp giáo dục thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Mẫu giáo - Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 9/2023 I. Lý do chọn sáng kiến: Trong mỗi gia đình, niềm hạnh phúc nhất của những người làm cha mẹ đó là khi nghe những tiếng cười nói những câu hỏi ngộ nghĩnh và sự trưởng thành của con cái. Trẻ em chính là những mầm non tương lai của đất nước. Ai cũng mong muốn con cái lớn lên trong một môi trường lành mạnh, được học tập được chăm sóc một cách tốt nhất. Ông cha ta có câu: “Uốn cây từ thuở còn non Dạy con từ thuở con còn ngây thơ” Vì vậy để dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ ngay khi còn nhỏ là điều vô cùng quan trọng, từ những việc nhỏ như tự xúc cơm, biết mặc quần áo, đi vệ sinh, cất đồ dùng cá nhân là việc làm cần thiết mà gia đình, nhà trường và xã hội cần quan tâm giáo dục trẻ. Nhiều cha mẹ cũng muốn để con tự lập, nhưng thường không đủ kiên nhẫn để theo đuổi trong quá trình rèn luyện cho con và cuối cùng bỏ cuộc. Có cha mẹ an ủi rằng “việc này khó quá, trẻ con 2, 3 tuổi sao làm được” rồi sau đó lại làm hộ con. Chúng ta muốn trẻ trở thành một người độc lập, thì người lớn không nên làm thay, nghĩ thay hoặc quyết định thay cho trẻ, hãy tin rằng trẻ có thể làm được mọi việc và ủng hộ, động viên trẻ để trẻ cố gắng. Năm học này tôi được phân công dạy nhóm trẻ 24-36 tháng D2. Từ thực tế trẻ ở lớp tôi, ngay từ đầu năm học, tôi thấy các cháu có kỹ năng tự phục vụ bản thân rất thấp, trong lớp có 23/29 trẻ mới đi học lần đầu nên chưa có một chút kỹ năng tự phục vụ nào, mọi người cứ nghĩ như vậy là đơn giản, lớn lên trẻ sẽ tự làm được mọi việc, nhưng thực sự đây là một thực trạng khó khăn rất lớn của lớp tôi.
- 2 Bảng khảo sát thực tế đầu năm của lớp trẻ 24-36 tháng D2 - trường mầm non Hoa Sen: STT Nội dung đánh giá Tổng Đạt Chưa đạt số trẻ Số trẻ Tỷ lệ Số trẻ Tỷ lệ % % 1 - Tập tự phục vụ: + Xúc cơm, uống nước. + Mặc quần áo, đi dép, đi vệ sinh, 29 7 24% 22 76% cởi quần áo khi bị bẩn, bị ướt. + Chuẩn bị chỗ ngủ. 2 - Tập nói với người lớn khi có 29 6 21% 23 79% nhu cầu ăn, ngủ, đi vệ sinh 3 - Tập đi vệ sinh đúng nơi quy 29 7 24% 22 76% định. 4 - Tập một số thao tác đơn giản 29 5 17% 24 83% trong rửa tay, lau mặt. Xuất phát từ các thực trạng đã nêu trên, với trách nhiệm được phân công dạy lớp 24- 36 tháng tuổi, bản thân luôn lo lắng, băn khoăn, trăn trở làm thế nào để trẻ tự phục vụ cá nhân bằng những công việc đơn giản hàng ngày phù hợp, để giúp trẻ luôn chủ động, linh hoạt, tự tin trong cuộc sống. Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày cho trẻ 24- 36 tháng tuổi”. II. Giải quyết vấn đề 1. Tính mới và sáng tạo của sáng kiến: Qua quá trình nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp tôi thấy mọi người đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ như: - Nắm rõ đặc điểm, tâm sinh lý của lứa tuổi để rèn luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. - Xây dựng môi trường phục vụ hoạt động của trẻ. - Thông qua việc tạo tình huống kích thích trẻ hoạt động để rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. - Rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ thông qua trò chơi và các hoạt động trong ngày. - Tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm và hành động theo suy nghĩ của trẻ. - Cho trẻ giúp đỡ các bạn khác khi tham gia các hoạt động. Dựa trên những kinh nghiệm giảng dạy và đặc điểm của trẻ thực tế tại lớp, nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non. Tôi đã áp dụng một số giải pháp mới có tính khả thi cao, dễ áp dụng, có sức lan toả, phù hợp với nội dung chương trình giáo dục mầm
- 3 non, tình hình thực tế của nhà trường và đạt hiệu quả cao về giáo dục thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày cho trẻ như sau: 1.1. Giải pháp thứ nhất: Lựa chọn các nội dung giáo dục, thói quen tự phục vụ phù hợp cho trẻ. Việc lựa chọn những kỹ năng phù hợp với lứa tuổi để dạy trẻ là rất quan trọng, góp phần quyết định cho sự thành công hay thất bại trong việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Ngay từ đầu năm, tôi đã căn cứ vào chương trình giáo dục mầm non, sách hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục trẻ 24- 36 tháng tuổi và khả năng của trẻ để chọn những kỹ năng dạy trẻ. Các kỹ năng đơn giản phù hợp với độ tuổi, mức độ từ đơn giản đến mức độ cao dần lên, không vượt quá khả năng của trẻ như: - Tập tự phục vụ: + Tự xúc cơm, tự uống nước. + Mặc quần áo, đi dép, cởi quần áo khi bị bẩn, bị ướt, đi vệ sinh. + Chuẩn bị chỗ ngủ. - Tập nói với người lớn khi có nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh. - Tập đi vệ sinh đúng nơi quy định. - Tập một số thao tác đơn giản trong rửa tay, lau mặt. * Điểm mới: So với những giải pháp đã được áp dụng thì cái mới và đem lại hiệu quả trong quá trình thực hiện biện pháp này chính là giáo viên luôn chủ động hơn trong công việc, biết sắp xếp công việc của mình một cách khoa học, biết lựa chọn các kỹ năng phù hợp với lứa tuổi trẻ giúp giáo viên rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ sẽ đạt hiệu quả cao hơn. * Ưu điểm: Trẻ sẽ được rèn các kỹ năng tự phục vụ phù hợp với độ tuổi của trẻ, mức độ từ đơn giản đến mức độ cao dần lên, không vượt quá khả năng của trẻ. * Hạn chế: Quá trình này cần được theo dõi và thực hiện thường xuyên, kéo dài nên giáo viên sẽ mất nhiều thời gian. 1.2. Giải pháp thứ hai: Tổ chức lồng ghép giáo dục kỹ năng tự phục vụ vào các hoạt động hàng ngày. - Giờ đón-trả trẻ: Đây là một hoạt động quan trọng trong ngày, đặc biệt đối với trẻ nhà trẻ. Mới đến lớp trẻ chỉ biết khóc, trẻ rất cần sự quan tâm, ân cần, vỗ về của cô giáo. Đối với những trẻ không khóc nhè, khi mới đến lớp tôi đón trẻ vào lớp nhắc trẻ phải chào ba, mẹ, chào cô, tôi hướng dẫn trẻ cất cặp vào tủ tư trang có ký hiệu cá nhân trẻ, hướng dẫn trẻ xếp dép đúng ngay ngắn lên kệ dép vào nơi quy định để khi cần tìm sẽ dễ dàng và nhanh. Đối với những trẻ còn hay khóc, chưa hợp tác với cô giáo khi bố mẹ đưa đến lớp, tôi giành nhiều thời gian quan tâm, dỗ dành trẻ cho đến lúc trẻ hết khóc, hòa nhập với các bạn thì tôi mới động viên, hướng dẫn trẻ thực hiện.
- 4 Đến giờ trả trẻ cũng vậy, tôi cho lần lượt từng nhóm trẻ tự đi lấy đồ dùng cá nhân, mặc áo khoác, đeo khẩu trang, đội mũ, mang dép xong mới chào cô, chào người thân rồi ra về. Và cứ như vậy dưới sự giám sát, nhắc nhở của cô trẻ thường xuyên thực hiện hàng ngày thì trẻ dần hình thành thói quen. Sau một, hai lần tôi nhắc nhở và ngày nào trẻ cũng được thực hành các thao tác đó nên trẻ có kỹ năng cất và lấy đồ dùng và không cần đến sự giúp đỡ của cô. - Thông qua hoạt động học: Ví dụ: Trong các giờ học tôi để đồ dùng ở vị trí khác nhau như trên bàn, trên giá... đồ dùng, đồ chơi tôi thường chia thành nhóm nhỏ đặt vị trí cách nhau đảm bảo trẻ dễ nhìn thấy, dễ lấy, dễ cầm, tránh việc xô đẩy, tranh dành, chen lấn nhau khi lấy. Sau đó mời trẻ tự lên lấy đồ dùng về chỗ thực hiện. Sau khi hoạt động xong tôi cũng cho trẻ cất đồ dùng về vị trí mà cô giáo yêu cầu. Ngoài ra giáo viên có thể sử dụng những câu chuyện, những bài hát, bài thơ sẽ giúp trẻ hứng thú hơn làm cho quá trình giáo dục tính tự lập trở nên nhẹ nhàng và đạt được hiệu quả cao. Ví dụ: Bài hát: “Bạn ơi hết giờ rồi”. Giáo dục trẻ biết cất đồ chơi gọn gàng, đúng nơi quy định. Bài thơ: “Đi dép”. Bài thơ giúp trẻ biết vì sao phải đi dép, khuyến khích trẻ luôn mang dép. - Thông qua hoạt động góc: Gợi ý để trẻ tự chọn góc chơi, vai chơi, hướng dẫn trẻ cách sử dụng đồ chơi, và tạo tình huống cho trẻ tự giải quyết vấn đề, để trẻ tự chơi, tự khám phá, và tìm hiểu, giúp đỡ trẻ khi cần. Khi hết giờ chơi trẻ tự cất đồ chơi gọn gàng, đúng nơi quy định. Ví dụ: Ở góc thao tác vai: Cho trẻ chơi bế em, cho em ăn dạy trẻ kỹ năng cầm thìa, cho em uống nước. Sau khi chơi xong các con thường không chịu nhặt đồ chơi mà vứt đồ chơi khắp lớp và đây là tình trạng trẻ 24- 36 tháng vào đầu năm học, trong thời gian này tôi đã đồng hành cùng trẻ trong việc cất dọn đồ chơi và tạo hứng thú cho trẻ bằng bài hát và thi đua nhặt đồ chơi theo nhóm rất tự giác và hứng thú vì sẽ được cô và các bạn khen. - Thông qua hoạt động chiều: Tôi chọn một số kỹ năng để hướng dẫn trẻ như: Cách rửa tay, rửa mặt, cách mặc quần áo, cách mang dép đúng Khi hướng dẫn trẻ một kỹ năng nào đó, tôi hướng dẫn một cách chậm rãi từng thao tác một. Thấy trẻ đã nắm được thao tác này thì tôi mới chuyển sang thao tác khác. Ví dụ: Trong giờ sinh hoạt chiều hướng dẫn trẻ kỹ năng “Đi dép”. Dạy trẻ đi dép đúng chân bên trái, chân bên phải, đi nhẹ nhàng. Sau khi thực hiện hoạt động dạy trẻ kỹ năng “Đi dép” tôi thấy trẻ lớp mình thích thú, vui vẻ hơn trong việc tự mình lấy dép và đi dép đúng bên chân. Trẻ tự đi dép, cất giày dép gọn
- 5 gàng lên giá. Tôi hướng dẫn trẻ, làm mẫu cho trẻ xem, động viên, khen ngợi, khích lệ trẻ tự làm và cứ như vậy những ngày tiếp theo tôi luôn để ý, quan sát xem trẻ có làm hay không, nếu trẻ chưa tự làm thì tôi lại động viên, khuyến khích trẻ làm. - Thông qua hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân: Đây là các hoạt động nhằm hình thành một số nề nếp, ý thức tự phục vụ. Giáo viên luôn hướng dẫn, gợi ý để trẻ tự làm, tự trải nghiệm công việc, hướng dẫn trẻ cách cầm thìa cầm bát, tự xúc ăn Trong giờ ăn: Trước khi ăn, hướng dẫn trẻ rửa tay, tự lấy ghế ngồi vào bàn, mời cô, mời bạn, cách cầm thìa, không ngậm thức ăn lâu trong miệng, không vừa ăn vừa chơi, vừa nói chuyện, đi lại lung tung, tự xúc ăn, biết bỏ bát thìa của mình vào rổ, nhặt thức ăn rơi vãi bỏ vào dĩa và lau tau tay vào khăn ẩm trên bàn. Trẻ thực hiện cứ lặp đi, lặp lại hằng ngày, lâu ngày sẽ tạo thành thói quen, kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Giờ ngủ: Sau khi ăn xong cho trẻ đi lại nhẹ nhàng, đi vệ sinh và đến giờ ngủ. Giấc ngủ rất cần thiết với trẻ, trẻ được ngủ đủ giấc cơ thể lớn nhanh khỏe mạnh, tinh thần thoải mái, vui vẻ, hứng thú tham gia vào các hoạt khác. Để có giấc ngủ sâu tốt cho sức khỏe thì đồ dùng phục vụ cho giờ ngủ rất quan trọng, tôi tận dụng giờ đi ngủ tập cho trẻ lấy gối của mình sắp xếp vị trí gối nằm ở đâu. Và khi ngủ dậy tập cho trẻ thói quen cất gối vào nơi quy định. Lúc đầu trẻ chưa biết cách lấy gối, cất gối. Vì vậy, tôi luôn giúp đỡ những trẻ làm chưa được, động viên, khen ngợi những trẻ làm được, qua một thời gian trẻ thực hiện kỹ năng này rất tốt. Giờ vệ sinh: Tập một số thao tác đơn giản cho trẻ như: Rửa tay, lau mặt...Trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non. Hoạt động vệ sinh cá nhân cho trẻ là hoạt động được diễn ra thường xuyên không thể thiếu trong các giờ hoạt động hằng ngày của trẻ. Đối với trẻ 24-36 tháng tuổi ở lớp tôi, từ đầu năm học, việc vệ sinh cá nhân cho trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào giáo viên. Giáo viên là người thực hiện thao tác vệ sinh này cho trẻ. Trước giờ ăn cô sẽ rửa tay sạch sẽ cho các con hay bất cứ khi nào cô thấy tay trẻ, mặt trẻ bị bẩn, các cô sẽ giúp trẻ lau rửa sạch sẽ. Dần dần cô cũng hướng dẫn các bước rửa tay, lau mặt cho trẻ. Từ sự hướng dẫn của cô, lâu dần trẻ có được một số kỹ năng đơn giản trong rửa tay, lau mặt như: Biết làm ướt tay, xoa xà phòng, rửa tay, hay biết chọn khăn đúng ký hiệu khi lau mặt, biết lau mắt, mũi, miệng,... Trẻ tập tự đi vệ sinh đúng nơi quy định: Cô giáo luôn ở bên cạnh để hướng dẫn, giúp đỡ trẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ. Thường xuyên hỏi về nhu cầu vệ sinh của trẻ, cứ 1,5 tiếng cho đi vệ sinh một lần. Ví dụ: + Với bé trai, hướng dẫn trẻ "tiểu" đứng, nhắc trẻ hướng nước tiểu vào bồn tiểu, tránh tè ra ngoài.
- 6 + Với bé gái, hướng dẫn trẻ ngồi bô đúng cách, thường xuyên nhắc trẻ trước khi ngồi xuống hoặc đứng lên thì cầm chun quần, kéo quần xuống (lên), và từ từ ngồi xuống (hoặc đứng lên). Dạy trẻ biết tự làm hoặc gọi cô giáo khi muốn mặc quần áo, cởi quần áo khi bị bẩn, bị ướt, khi cảm thấy nóng, lạnh. Ví dụ: Vào thời tiết mùa thu buổi sáng trời se lạnh, đa số trẻ đều mặc áo khoác mỏng, buổi trưa thời tiết ấm hơn hay trước khi trẻ ngủ trưa giáo viên hướng dẫn trẻ cởi áo khoác sau đó đặt lên một chiếc bàn cô đã chuẩn bị. Buổi chiều khi ngủ dậy trẻ có thể tự mặc áo khoác khi thấy lạnh hay nhờ cô mặc khi thấy lạnh. Sau một vài lần hướng dẫn nhắc nhở và được thực hiện thường xuyên, đa số trẻ đã có thói quen cởi áo khi nóng và trước khi đi ngủ, biết mặc áo khi lạnh. * Điểm mới: Thông thường, những trẻ nào có kỹ năng tốt thì giáo viên thường quan tâm, tạo cơ hội cho những trẻ thực hiện thường xuyên. Còn những trẻ chưa có kỹ năng thì cô làm thay trẻ vì cho trẻ còn quá nhỏ, sợ trẻ làm mất nhiều thời gian. Còn ở đây, tôi chú trọng kỹ năng thực hiện, theo dõi, quan sát và đánh giá quá trình của tất cả trẻ, tạo cho trẻ được trải nghiệm, được làm theo khả năng của trẻ, đây là yếu tố rất quan trọng thúc đẩy trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động. * Ưu điểm: Giáo viên dễ dàng nhận biết được điểm mạnh, điểm yếu của trẻ để có kế hoạch rèn kỹ năng cho trẻ phù hợp. * Hạn chế: Độ tuổi trẻ nhỏ, đa số trẻ chưa có kỹ năng tự phục vụ, khả năng nhận thức của mỗi trẻ không đồng đều, một số trẻ chưa phát âm rõ, trẻ hay quấy khóc, có một số trẻ nghe nhưng không hiểu yêu cầu của cô thích tự làm theo ý mình nên giáo viên gặp nhiều khó khăn, giáo viên phải quan sát, bao quát, hướng dẫn từng kỹ năng cho trẻ. 1.3. Giải pháp thứ ba: Phối hợp với phụ huynh về việc giáo dục thói quen tự phục vụ cho trẻ. Để công tác chăm sóc giáo dục trẻ ở trường đạt kết quả tốt nhất, tránh trường hợp cô giáo ở lớp thì giáo dục trẻ kỹ năng tự phục vụ, còn về nhà cha mẹ lại luôn làm giúp trẻ mọi việc. Chính vì không muốn tình trạng đó xảy ra nên tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh thông qua giờ đón trả trẻ, trò chuyện trực tiếp với phụ huynh, bảng tuyên truyền tại nhóm lớp, tuyên truyền trên nhóm zalo, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, gợi ý phụ huynh một số việc cần làm trong quá trình giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ bằng những việc đơn như: Lấy tăm, lấy mũ, tự đi dép, cất dép... không làm hộ trẻ những việc trẻ có thể tự làm.
- 7 Tôi thường trò chuyện với phụ huynh để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình trẻ, tính cách trẻ và đặc biệt là quan điểm giáo dục của gia đình trẻ. Dần dần tôi giúp phụ huynh hiểu được rằng việc để con có kỹ năng tự phục vụ, không quá bao bọc, hay không có bố mẹ ở bên chính là đang mang lại những điều tốt đẹp cho con sau này. Ví dụ: Khi trẻ tập ăn, để hạn chế bát đũa đổ vỡ và các con bôi bẩn lung tung, thì bố mẹ nên cho trẻ sử dụng bát, thìa inox. Ở nhà muốn con biết tự cất đồ chơi thì cha mẹ sẽ làm một vài chiếc giỏ để con cất đúng chỗ. Bắt đầu từ những việc đơn giản và tăng dần mức độ khó lên khi bé đã quen dần. Tập cho trẻ trong các hoạt động hằng ngày của mình như tự mặc quần áo của mình hay chỉ đơn giản là đem cất cốc nước mà trẻ vừa uống xong có thể giúp trẻ có kỹ năng tự phục vụ hơn. Mẹ cũng có thể cho trẻ làm “chân chạy vặt” mỗi khi mẹ làm việc nhà, vừa tăng cơ hội gần gũi giữa mẹ và trẻ vừa giúp bé có kỹ năng tự phục vụ cao hơn. * Điểm mới: Trước đây ở lớp giáo viên luôn hướng dẫn cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ, tuy nhiên khi ở nhà nhiều phụ huynh luôn nghĩ độ tuổi của trẻ còn quá nhỏ, không thể làm được việc gì, nên cứ làm thay trẻ. Nhưng cái mới ở đây là giáo viên đã phối hợp với phụ huynh, tạo ra sự tác động đa chiều giữa phụ huynh với cô giáo; phụ huynh với trẻ; phụ huynh với phụ huynh. Bởi tất cả các hoạt động này được công khai trên nhóm liên lạc zalo của lớp. Các phụ huynh sẽ nhìn thấy sự thay đổi tích cực của con qua từng hoạt động, có thể cùng con xem video của bạn, vừa trò chuyện, vừa hướng dẫn được các kỹ năng tự phục vụ cho con khi ở nhà. * Ưu điểm: Giáo viên đã làm tốt được công tác phối kết hợp với phụ huynh. Không chỉ ở lớp mà ở nhà trẻ vẫn học được nhiều kỹ năng tự phục vụ bản thân. * Hạn chế: Nhiều phụ huynh vẫn còn nghĩ con mình còn quá nhỏ, luôn nuông chiều con, chưa biết cách rèn cho con một số kỹ năng tự phục vụ bản thân. 2. Tính thực tiễn của sáng kiến Kỹ năng tự phục vụ là một trong những kỹ năng quan trọng thúc đẩy trẻ hoàn thiện mình một cách tốt nhất, nó giúp cho trẻ hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức và tính tự lập sau này. Như vậy, cho đến thời điểm này sáng kiến của tôi có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ sử dụng. Cụ thể tôi đã áp dụng vào trong quá trình chăm sóc - giáo dục hằng ngày cho trẻ 24-36 tháng lớp tôi. Việc áp dụng sáng kiến mới đã tạo ra những tín hiệu đáng mừng như sau: Áp dụng những giải pháp trên tôi nhận thấy sự thay đổi rõ rệt ở trẻ, kỹ năng tự phục vụ được nâng lên, bản thân đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn trong việc tổ chức các hoạt động trong ngày cho trẻ, giúp trẻ tự tin hơn, dễ hòa nhập hơn khi đến với môi trường mới. Trẻ được thỏa mãn nhu cầu tự lập, tự mình làm mọi thứ cho bản thân. Thói quen tự phục vụ là một yếu tố quan trọng có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, giúp trẻ có cơ hội phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp nào thì mỗi giáo viên luôn nhớ rằng trẻ luôn làm trung tâm, cô giáo chỉ là người hướng dẫn, gợi ý cho trẻ để đạt đến mục tiêu chính là phát triển toàn diện cho trẻ.
- 8 3. Hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến 3.1. Hiệu quả áp dụng Qua một năm thực hiện: “Một số biện pháp giáo dục thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày cho trẻ 24-36 tháng tuổi”, từ sự cố gắng nghiên cứu tài liệu, học hỏi chị em đồng nghiệp, kinh nghiệm của bản thân, sự chỉ đạo sát sao và góp ý kiến kịp thời của ban giám hiệu trường mầm non Hoa Sen, sự ủng hộ tích cực của các bậc phụ huynh tôi đã đạt được những kết quả như sau: - Đối với trẻ: Sau khi đưa ra các biện pháp trên, tôi thấy trẻ rất hứng thú, tích cực tham gia các hoạt động. Trẻ mạnh dạn, tự tin, vui vẻ hơn trong các hoạt động ở lớp, trẻ đã có được một số kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giữ gìn vệ sinh và thực hiện một cách tự nguyện và thích thú. Kỹ năng tự phục vụ của trẻ cao, biết tự giác trong mọi hoạt động. Trẻ học được cách làm việc cẩn thận, gọn gàng. Phát triển tư duy sáng tạo cho trẻ. Giúp trẻ dễ dàng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau. Bảng tổng hợp kết quả khảo sát cuối năm của lớp trẻ 24-36 tháng D2- trường mầm non Hoa Sen (tháng 5 năm 2024) STT Nội dung đánh giá Tổng Kết quả khảo sát So số trẻ Trước Sau sánh Số trẻ Tỷ lệ Số trẻ Tỷ lệ đạt % đạt % 1 - Tập tự phục vụ: + Xúc cơm, uống nước. + Mặc quần áo, đi dép, đi Tăng 7 24% 24 83% vệ sinh, cởi quần áo khi 29 59% bị bẩn, bị ướt. + Chuẩn bị chỗ ngủ. 2 - Tập nói với người lớn Tăng khi có nhu cầu ăn, ngủ, đi 29 6 21% 23 79% 58% vệ sinh... 3 - Tập đi vệ sinh đúng nơi Tăng 7 24% 25 86% quy định. 29 62% 4 - Tập một số thao tác đơn giản trong rửa tay, lau 29 5 17% 22 76% Tăng mặt. 59%
- 9 - Đối với giáo viên: Nâng cao được kiến thức trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Biết tích hợp nội dung giáo dục tính tự phục vụ cho trẻ vào các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ hàng ngày. Có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc rèn cho trẻ kỹ năng tự phục vụ bản thân. Nâng cao được kiến thức tuyên truyền cũng như mối quan hệ chặt chẽ với phụ huynh. - Đối với phụ huynh: Nhìn thấy sự tiến bộ, thay đổi của trẻ phụ huynh thấy rất vui và yên tâm, tin tưởng vào nhà trường, cô giáo và luôn đồng lòng ủng hộ công tác chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. Nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng tự phục vụ bản thân cho trẻ nên đã quan tâm, tích cực phối hợp với cô giáo để rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở nhà cũng như ở trường như: Thường xuyên trao đổi với giáo viên về tình hình của con mình, về nhà phụ huynh trò chuyện với trẻ nhiều hơn, tham gia chơi các trò chơi cùng con, hướng dẫn con làm một số việc đơn giản, quay video gửi cho giáo viên. Và đặc biệt phụ huynh rất ủng hộ khi giáo viên tổ chức các hoạt động cho trẻ thực hành, trải nghiệm cho trẻ tham gia vào các hoạt động trò chơi cùng nhóm bạn bè. 3.2. Phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến: Đề tài: “Một số biện pháp giáo dục thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày cho trẻ 24- 36 tháng tuổi” được áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục mầm non. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi đã vận dụng đưa vào quá trình chăm sóc trẻ trong lớp tôi phụ trách và đạt được kết quả tốt. Được hội đồng chuyên môn nhà trường đánh giá cao và khuyến khích cần nhân rộng đề tài trong toàn trường, đưa lên trang web và kho học liệu dùng chung của nhà trường. III. Kết luận: 1. Bài học kinh nghiệm: Giáo dục thói quen tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày cho trẻ là việc làm hết sức quan trọng, vì thói quen tự phục vụ bản thân là một trong những kỹ năng quan trọng thúc đẩy trẻ hoàn thiện mình một cách tốt nhất, nó giúp cho trẻ hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức và tính tự lập sau này. Các giải pháp giúp giáo viên lựa chọn đúng những kỹ năng tự phục vụ phù hợp với trẻ lớp mình để hướng dẫn trẻ. Hiểu được tâm sinh lý của từng trẻ, tạo mối quan hệ thân thiết gần gũi giữa cô và trẻ. Giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ lớp tôi góp phần giúp trẻ tự tin hơn, dễ hòa nhập hơn khi đến với môi trường mới. Trẻ được thỏa mãn nhu cầu tự lập, tự mình làm mọi thứ cho bản thân.
- 10 Thói quen tự phục vụ là một yếu tố quan trọng có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, giúp trẻ có cơ hội phát triển về mọi mặt. Trẻ em là một đối tượng khá nhạy cảm, nếu trẻ được tiếp xúc với nền giáo dục tốt thì trẻ sẽ phát triển theo chiều hướng tốt và ngược lại. Do đó việc rèn luyện thói quen tự phục vụ cho trẻ cần được áp dụng càng sớm càng tốt và là phương pháp rất quan trọng và cần thiết trong quá trình phát triển của trẻ. Trong việc rèn nề nếp, thói quen học tập, vui chơi, ăn ngủ, vệ sinh, thói quen tự phục vụ bản thân không phải nói mà có được, mà cô giáo là người thật sự nhiệt tình, nhẹ nhàng dìu dắt trẻ dần dần từng bước, nhẹ nhàng, ân cần, âu yếm với trẻ, xem cô là người mẹ thứ hai của trẻ, để trẻ tự tin hứng thú đi vào nề nếp của các hoạt động trong ngày một cách tốt nhất. Sau quá trình thực hiện tôi đúc rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân như sau: + Bản thân phải biết tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm từ sách báo, mạng internet, đồng nghiệp. + Phải có kế hoạch cụ thể, phù hợp với độ tuổi cũng như tình hình thực tế của của trường, lớp và của trẻ. + Cần có sự ủng hộ, quan tâm và phối hợp từ các bậc phụ huynh. + Cần tổ chức tốt các hoạt động trong ngày, tạo điều kiện cho trẻ tự phục vụ bản thân, không làm thay trẻ. + Trẻ luôn là mục tiêu, đóng vai trò chủ đạo và việc lấy trẻ làm trung tâm là vô cùng cần thiết. 2. Kiến nghị, đề xuất: - Đối với phòng giáo dục: Tiếp tục mở các lớp tập huấn chuyên môn về nội dung hướng dẫn kỹ năng tự phục vụ bản thân cho trẻ nhà trẻ nói riêng và mầm non nói chung để giáo viên học tập, trao đổi kinh nghiệm. - Đối với nhà trường: Tiếp tục kiểm tra bồi dưỡng việc thực hiện các hoạt động trong chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ ở trường mầm non trong đó có hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày cho trẻ. XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG NHÓM TÁC GIẢ Nguyễn Thị Vinh Lê Thị Ngọc Hà Lê Thị An XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT

