Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi khám phá khoa học
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi khám phá khoa học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_c.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi khám phá khoa học
- BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu: Nhu cầu tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh của con người xuất hiện từ khi còn nhỏ. Ngay từ khi mới ra đời trẻ đã muốn ngắm nhìn xung quanh, khi chỉ mới 2 tháng tuổi trẻ đã hứng thú đưa mắt nhìn theo những quả bóng bay xanh - đỏ treo trước mắt và tò mò đưa tay với, . Càng lớn, nhu cầu đó càng tăng lên bằng việc bắt chước giọng điệu người lớn (Vd: trẻ thích mặc quần áo, đeo dép của mẹ ), làm những công việc của người lớn hay với trẻ 4 - 5 tuổi kinh nghiệm sống đã có nên trẻ liên tục hỏi những câu hỏi về thế giới xung quanh như: “Tại sao? gió ở đâu đến? con sinh ra như thế nào?....” đó chính là giai đoạn mà nhu cầu khám phá khoa học, khám phá thế giới xung quanh của trẻ phát triển cao nhất. Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, khoa học là những hiểu biết về thế giới khách quan mà trẻ phát hiện, tích lũy được trong các hoạt động tìm kiếm, khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh. Đây có thể chưa phải là những kiến thức chính xác ở mức độ cao, song chúng rất phong phú, thỏa mãn trí tò mò của trẻ, góp phần làm giàu vốn kinh nghiệm để trẻ có thể giải quyết các tình huống đơn giản trong cuộc sống. Ở trường mầm non, trẻ không chỉ được chăm sóc nuôi dưỡng mà còn được thực hiện nhiều hoạt động khác nhau trong ngày. Trong đó, hoạt động “Khám phá khoa học” có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nhận thức cho trẻ. Thông qua hoạt động này, trẻ thể hiện sự thích thú và đam mê khám phá thế giới xung quanh, giúp nuôi dưỡng tình yêu thiên nhiên trong trẻ. Đồng thời thông qua các hoạt động khám phá khoa học sẽ giúp cho trẻ dần hình thành và phát triển các kỹ năng quan sát, kỹ năng tư duy, phân tích, tổng hợp, khái quát ...Như vậy, các hoạt động khám phá khoa học, những hoạt động trải nghiệm thực tế là không thể thiếu để trẻ được trải nghiệm và giải quyết tình huống một cách rất sáng tạo, nhận ra những quy luật trong quá trình sinh hoạt của con người bằng tính tò mò bẩm sinh vốn luôn xuất hiện không ngừng trong cuộc sống hàng ngày,. Việc vừa mang lại niềm vui và sự quan tâm về khoa học một cách tự nhiên, vừa chuẩn bị một nền tảng suy nghĩ khoa học đang trở thành một mục tiêu lớn trong ngành giáo dục mầm non. Hơn nữa, điều đó cũng giúp ích cho trẻ hình thành thái độ sống khoa học và tự mình tìm được phương pháp giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Tuy nhiên, ở các trường mầm non hiện nay. Việc tổ chức các hoạt động thử nghiệm, khám phá khoa học còn rất hạn chế. Một mặt do quá trình thực hiện 1
- các thí nghiệm khám phá khoa học rất phức tạp mất nhiều thời gian, bên cạnh đó việc tìm tài liệu, sách báo hướng dẫn các hoạt động khám phá, trải nghiệm đơn giản và gần gũi với trẻ chưa phong phú. Giáo viên chưa dành thời gian nghiên cứu sâu và tìm hiểu về môn học cho trẻ khám phá khoa học, việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chưa linh hoạt, chưa sáng tạo và đôi khi còn ngại tổ chức các hoạt động cho trẻ trải nghiệm phức tạp, khó. Trong thực tế, nhiều giáo viên thường chú trọng cho trẻ tìm hiểu bề ngoài của các đối tượng, đa số trẻ chỉ được hỏi và trả lời, ít khi cho trẻ sờ, mó, nếm các đồ vật mà trẻ được thí nghiệm. Giáo viên ít đưa ra câu hỏi mở khích thích sự tìm tòi, khám phá của trẻ, chính vì vậy trẻ có ít trải nghiệm, ít có điều kiện để giải quyết vấn đề mà trẻ dự đoán. Phụ huynh đa số chưa hiểu và chưa quan tâm đến nhu cầu khám phá khoa học của trẻ như thế nào, thường phó mặc việc dạy trẻ cho giáo viên và nhà trường. Vì tất cả những những lý do trên, tôi luôn mong muốn mình có thể giúp trẻ học thật tốt bộ môn khám phá khoa học,tôi đã trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu và quyết định lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi khám phá khoa học” 2. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi khám phá khoa học” 3. Tác giả sáng kiến: Họ và tên: Nguyễn Thị Nhớ Thương Địa chỉ: Trường Mầm non Đại Tự, Huyện Yên lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc Số điện thoại: 0964844332; Email: [email protected] 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Bản thân tự tiến hành nghiên cứu sáng kiến. 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến. Lĩnh vực phát triển nhận thức; Chỉ ra thực trạng khi cho trẻ 4 - 5 tuổi khám phá khoa học ở trường mầm non. Vấn đề sáng kiến cần giải quyết:“Một số giải pháp nâng cao chất lượngcho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi khám phá khoa học” . 6. Ngày sáng kiến được áp dụng. - Ngày bắt đầu: 10/08/2017 - Ngày kết thúc: 28/02 /2018 2
- 7. Mô tả bản chất sáng kiến. 7.1. Cơ sở lý luận. 7.1.1.Thế nào là khám phá khoa học với trẻ mầm non? Khoa học không chỉ là kiến thức mà còn là quá trình hay con đường tìm hiểu khám phá thế giới vật chất. Khoa học với trẻ nhỏ là quá trình tìm hiểu, khám phá thế giới tự nhiên. Khám phá khoa học với trẻ nhỏ là quá trình tìm tòi tích cực từ phía trẻ nhằm phát hiện cái mới của đối tượng, của thế giới tự nhiên. Ở giai đoạn này, giáo viên không nhất thiết phải dạy hoặc giải thích những kiến thức khoa học cho trẻ mà chủ yếu là giúp trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những gì trẻ nhìn thấy và đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem xét, phỏng đoán các sự vật, hiện tượng xung quanh và thảo luận, chia sẻ điều trẻ nhìn thấy, điều trẻ nghĩ hoặc điều còn băn khoăn, thắc mắc. 7.1.2. Vai trò của khám phá khoa học đối với trẻ: Khám phá khoa học là một hoạt động có vai trò quan trọng trong việc giáo dục và sự phát triển toàn diện của trẻ độ tuổi mầm non. Cụ thể là: - Góp phần hình thành những biểu tượng đúng đắn về sự vật và hiện tượng gần gũi xung quanh, cung cấp cho trẻ những tri thức đơn giản có hệ thống về thế giới xung quanh, hiểu biết về mối liên hệ và sự phát triển của các sự vật hiện tượng xung quanh. - Góp phần phát triển và hoàn thiện các giác quan, các quá trình tâm lí của trẻ. - Góp phần phát triển ở trẻ tình cảm thẩm mỹ, đạo đức. - Tích lũy cho trẻ vốn sống làm cơ sở để trẻ dễ dàng lĩnh hội những nội dung giáo dục của các hoạt động vui chơi, lao động và các môn học khác. 7.1.3. Mục tiêu của khám phá khoa học với trẻ. Việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm, khám phá khoa học cho trẻ nhằm đạt được các mục tiêu chính sau: Giúp trẻ có hiểu biết ban đầu về sự vật hiện tượng xung quanh trẻ Giúp phát triển kỹ năng nhận thức (khả năng quan sát, so sánh, phán đoán, giao tiếp, suy luận ), kỹ năng xã hội cho trẻ. Hình thành và phát triển ở trẻ tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, lòng nhân ái, tình cảm yêu thương với người thân, với cuộc sống xung quanh trẻ, biết yêu quí bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ những truyền thống của quê hương đất nước, trân trọng và giữ gìn sản phẩm lao động tự làm ra. 7.1.4. Đặc điểm nhận thức trong hoạt động khám phá khoa học của trẻ 4- 5 tuổi. 3
- Tất cả trẻ em đều rất thích tiếp xúc và hoạt động với sự vật và hiện tượng xung quanh, trẻ sẵn sàng hoạt động với thiên nhiên, đồ dùng, đồ chơi, thích được giao tiếp với bạn bè và người xung quanh. Trẻ luôn luôn đặt ra câu hỏi vì sao? Tại sao? Cái đó là gì? Từ đâu có? khi quan sát các sự vật và hiện tượng xung quanh. Người lớn khó có thể trả lời hết các câu hỏi mà trẻ đặt ra. Nhận thức của trẻ đã đi vào chi tiết hơn trẻ nhà trẻ, trẻ không chỉ dựa vào những đặc điểm bên ngoài mà còn đi vào các đặc điểm bên trong. Nhận thức của trẻ thường mang tính không chủ định. Giáo viên cần giúp cho trẻ nhận thức có chủ định và trong quá trình nhận thức đó đòi hỏi phải có giáo dục trực quan. Quá trình nhận thức của trẻ càng có nhiều giác quan tham gia vào thì quá trình nhận thức đó càng đầy đủ và chính xác. Cần tạo điều kiện cho trẻ hoạt động trực tiếp với sự vật, hiện tượng vào những thời điểm thích hợp: nhìn, sờ, nếm, ngửi sau đó dùng ngôn ngữ để khái quát lại những đặc điểm đặc trưng của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, gia đình và nhà trường phải tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên tiếp xúc với thiên nhiên, giao tiếp với bạn bè và những người xung quanh. Người lớn cần có thái độ đúng đối với những hành động của trẻ, cần thỏa mãn n nhu cầu khám phá của trẻ. 7.1.5. Nội dung cho trẻ khám phá khoa học: Bao gồm các nội dung sau: a. Khám phá môi trường xã hội - Dạy trẻ biết mối quan hệ của những người thân trong gia đình, trường, lớp mẫu giáo, biết cách xưng hô với mọi người xung quanh, biết nghe lời và giúp đỡ mọi người. - Dạy trẻ tìm hiểu về Bác Hồ. Tình cảm của Bác Hồ đối với các cháu và mọi người. - Dạy trẻ biết 1 số công việc lao động của người thân và 1 số nghề nghiệp gần gũi. - Giới thiệu với trẻ về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử của địa phương, của đất nước.Tổ chức các ngày lễ. - Giới thiệu 1 vài dân tộc khác nhau trên đất nước. b. Đồ vật, thực vật Dạy trẻ biết tên gọi, công dụng và phân biệt được một số đồ dùng đồ chơi, cây cối, phương tiện giao thông qua những đặc điểm, dấu hiệu rõ nét, biết phân nhóm đồ vật theo một số dấu hiệu cho trước. c. Môi trường thiên nhiên - Tiếp tục dạy trẻ biết tên gọi, ích lợi và phân biệt một số cây, hoa, rau, quả, con vật phổ biến và đa dạng qua dấu hiệu đặc trưng. 4
- - Dạy trẻ biết mối quan hệ giữa cấu tạo với môi trường sống, giữa cấu tạo và khả năng vận động của con vật và cây cối - Dạy trẻ biết quan sát, phân biệt các hiện tượng và dấu hiệu rõ nét của 2 mùa chính ttrong năm: mùa đông, mùa hè. - Tổ chức cho trẻ chơi với đất, đá, cát, nước và tìm hiểu đặc điểm của chúng. Với các nội dung khám phá khoa học, khám phá xã hội như trên, giáo viên cần linh hoạt trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động giáo dục sao cho phừ hợp với nội dung từng chủ đề cũng như khả năng nhận thức của trẻ để việc giáo dục đạt kết quả tốt nhất. 7.2. Thực trạng việc tổ chức cho trẻ 4-5 tuổi khám phá khoa học ở trường mầm non: 7.2.1. Thực trạng nhà trường. Trường được thành lập từ năm 1977. Trong suốt 40 năm năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã có sự phát triển nhanh chóng về số lượng cán bộ, giáo viên, nhân viên cũng như số trẻ ở các độ tuổi đến trường. Trong quá trình đó cùng với sự lớn mạnh dần lên của đội ngũ cũng có nhiều đồng chí chuyển đi vì lý do công việc vì nhu cầu cuộc sống, song cũng có nhiều đồng chí chuyển đến và được bổ nhiệm mới nhưng tinh thần đoàn kết nội bộ vẫn vững chắc, sự phấn đấu phát triển vẫn luôn theo chiều hướng đồng thuận. Điều đó khẳng định uy tín cũng như vị thế của trường với cộng đồng xã hội. Về cơ sở vật chất của nhà trường từ khi còn làm việc ở những mái nhà tranh tạm bợ đến những khu nhà kho cũ của hợp tác xã đến nay đã khang trang sạch đẹp có tương đối đủ các phòng học, phòng làm việc, đảm bảo đủ các điều kiện phục vụ mọi hoạt động của nhà trường. Được sự đầu tư về cơ sở vật chất, nhà trường đã tích cực làm tốt công tác tuyên truyền xã hội hóa giáo dục, tuyên truyền để số trẻ ra lớp tăng cao. Số nhóm lớp nhà trẻ, mẫu giáo được tăng lên, có 3 nhóm trẻ tập thể, 16 lớp mẫu giáo. Đời sống của cán bộ, giáo viên đã được quan tâm hơn so với trước đây. Cán bộ quản lý được hưởng lương biên chế Nhà nước, giáo viên được hợp đồng và hưởng lương theo bằng cấp và được đóng BHYT, BHXH từ năm 2002. Trường đã có chi bộ Đảng, công đoàn và đoàn thanh niên. Trong những năm vừa qua đội ngũ giáo viên trong nhà trường đã phấn đấu đạt được nhiều thành tích trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, được các cấp ngành đánh giá là đơn vị có nhiều cố gắng. Đạt được thành tựu 5
- đó là nhờ có sự quan tâm của Đảng, chính quyền, các cấp ngành Giáo dục, đặc biệt là do sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường. Từ điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ như vậy đã ảnh hưởng lớn đến việc vận dụng khám phá khoa học vào công tác chăm sóc, giáo dục trẻ, chất lượng toàn diện của nhà trường. 7.2.2. Thực trạng của lớp: Qua quá trình thực hiện chương trình ở lớp tôi phụ trách bản thân tôi nhận thấy rằng lớp có những thực trang cụ thể như sau: * Về cơ sở vật chất. Cơ sở vật chất là một trang thiết bị hết sức cần thiết trong trường mầm non không thể thiếu được. Đồ dùng trực quan, đồ chơi phục vụ tiết dạy như: bàn ghế, bảng tranh lô tô, mô hình, đèn chiếu. Vật mẫu cần phải đầy đủ cho cô và trẻ cùng hoạt động. Đồ dùng của trẻ phải đẹp, hấp dẫn phong phú sinh động nhằm kích thích sự hứng thú tò mò của trẻ. Tôi thường sử dụng vật thật, đồ vật hoặc tranh ảnh, mô hình, đèn chiếu sinh động cho tiết học. Dựa vào thực tế ở lớp, đầu năm học tôi chủ động kiểm kê tài sản, đồ dùng tận dụng được trong lớp học. Qua đó tôi nắm bắt được những đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động khám phá khoa học của trẻ còn thiếu là các đồ dùng làm thí nghiệm. Tài liệu, sách báo về các thí nghiệm khám phá khoa học cho trẻ còn hạn chế. *Về giáo viên: Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về phương pháp GDMN mới. Bản thân tôi luôn yêu nghề mến trẻ, là giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp huyện trong nhiều năm, ham học hỏi, luôn cố gắng tìm tòi, sáng tạo trong giảng dạy để tìm ra các biện pháp gây hứng thú cho trẻ trong các hoạt động. tìm tòi làm một số đồ dùng đồ chơi, phục vụ tiết dạy vào hoạt động của trẻ. Bản thân tôi theo lớp ngay từ lớp mẫu giáo bé lên lớp mẫu giáo nhỡ nên nắm bắt được đặc điểm nhận thức cũng như tâm sinh lý của trẻ. Tuy nhiên, một số giáo viên trong trường chưa dành thời gian nghiên cứu sâu và tìm hiểu về môn học cho trẻ khám phá khoa học, việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chưa nhiệt tình, nhanh nhẹn, nhạy bén, sáng tạo và đôi khi còn ngại tổ chức các hoạt động cho trẻ trải nghiệm phức tạp, khó, trong thực tế, nhiều giáo viên thường chú trọng cho trẻ tìm hiểu bề ngoài của các đối tượng, đa số trẻ chỉ được hỏi và trả lời, ít khi cho trẻ sờ, mó, nếm các đồ vật mà trẻ được thí nghiệm. Giáo viên ít đưa ra câu hỏi mở khích thích sự tìm tòi, khám 6
- phá của trẻ, chính vì vậy trẻ có ít trải nghiệm, ít có điều kiện để giải quyết vấn đề mà trẻ dự đoán. *Về phụ huynh: Đa số phụ huynh luôn quan tâm đến việc học tập, nhu cầu của trẻ. Một số phụ huynh đi làm ăn xa nên công tác phối hợp, tuyên truyền còn gặp nhiều khó khăn. *Về chất lượng trẻ: Trẻ cùng độ tuổi ngoan, có ý thức kỷ luật khi tham gia các hoạt động. Tuy nhiên, một số trẻ chưa qua lớp mẫu giáo bé, một số trẻ chuyển từ trường khác đến nên có sự chênh lệch về khả năng tiếp thu, một số trẻ rụt rè, nhút nhát, khả năng diễn đạt và giao tiếp còn nhiều hạn chế. Vốn biểu tượng về môi trường tự nhiên của trẻ còn ít, đặc biệt trẻ rất nhầm lẫn khi gọi tên các con vật, cây, hoa, quả....(Ví dụ như: Tất cả các con vật biết bay trẻ đều gọi là chim mà không gọi được là chim bồ câu hoặc chim én ..). Mặt khác khả năng quan sát, phân loại của trẻ gặp nhiều khó khăn. * Kết quả khảo sát ban đầu: Tổng số học sinh trong nhóm lớp được khảo sát là 23/23 trẻ ( = 100%) Bắt đầu từ tháng 9, tôi đã lên kế hoạch khảo sát trẻ ( Qua việc theo dõi các hoạt động trong ngày của trẻ, cùng với việc tổ chức cho trẻ tham gia một số hoạt động trải nghiệm khám phá khoa học để đánh giá trẻ ) bao gồm các tiêu chí: Khả năng quan sát, khả năng so sánh, khả năng phân loại, khả năng giao tiếp, thao tác thực nghiệm, khả năng phán đoán, khả năng suy luận Đồng thời, tôi cũng thực hiện khảo sát mức độ quan tâm và phối hợp của phụ huynh trong việc tổ chức các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ. Bảng kết quả khảo sát đầu năm (lần 1) trẻ đạt được các mức độ sau: STT Tiêu chí Số trẻ đạt Tỉ lệ đạt 1 Khả năng quan sát 12/23 52% 2 Khả năng so sánh 10/23 43% 3 Khả năng phân loại 10/23 43% 4 Khả năng giao tiếp 13/23 56% 5 Thao tác thử nghiệm 11/23 48% 6 Khả năng phán đoán 10/23 43% 7 Khả năng suy luận 9/23 39% 7
- Bảng kết quả khảo sát đầu năm (lần 1) phụ huynh đạt được các mức độ: STT Tiêu chí Số phụ huynh Tỉ lệ đạt phối hợp 1 Khả năng cộng tác phối hợp 14/23 60% Sự quan tâm ủng hộ nguyên vật liệu 2 10/23 43% làm đồ dùng, đồ chơi Với bảng khảo sát trên ta thấy, kết quả khảo sát trẻ ở các tiêu chí nhìn chung còn thấp . Thấp nhất là khả năng suy luận của trẻ ( chỉ đạt 39%). Các tiêu chí còn lại đa số đều đạt dưới 50%. Sự quan tâm ủng hộ nguyên vật liệu trong quá trình dạy và học của phụ huynh vẫn còn hạn chế ( Có 43% phụ huynh quan tâm). Từ thực trạng trên, để phát triển khả năng khám phá khoa học của trẻ 4-5 tuổi lớp tôi phụ trách được tốt hơn nên tôi đã thực hiện một số biện pháp cụ thể như sau: 7.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi khám phá khoa học” Để đạt được hiệu quả cao trong việc chăm sóc giáo dục phát triển khám phá khoa học, thì trước hết người giáo viên phải xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể cho năm học, cho từng chủ đề, từng tuần. Phải nắm vững chuyên môn, không ngừng học hỏi, tìm tòi để trao đổi kiến thức, năng động sáng tạo, phải thực sự yêu nghề, mến trẻ, luôn luôn gần gũi yêu thương và tôn trọng trẻ, tạo niềm tin đối với trẻ. Trẻ mẫu giáo, hoạt động vui chơi luôn đóng vai trò chủ đạo, trẻ được “Học mà chơi chơi mà học”. Để giúp trẻ học tốt môn khám phá khoa học thì cần phải thực hiện các giải pháp sau: *Giải pháp 1. Tham mưu, đầu tư cơ sở vật chất và tăng cường làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ KPKH: Muốn thực hiện tốt các hoạt động giáo dục, điều đầu tiên phải có CSVC đầy đủ như: Máy vi tính cùng với các phần mềm giáo dục, máy in, đồ dùng, đồ chơi, mạng intenet . Để đáp ứng yêu cầu đó tôi đã tham mưu với ban giám hiệu nhà trường đầu tư CSVC, trang thiết bị máy vi tính, máy chiếu đa năng tăng cường làm và sưu tầm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hoạt động tại nhóm, lớp nhất là những đồ dùng đồ chơi làm từ những nguyên vật liệu sẵn có từ phế thải ở địa phương như làm con giống từ những cái chai, lọ ., đồng thời vận động phụ huynh ủng hộ vật chất để mua máy in, ti vi, đầu video...tạo điều kiện để giáo viên có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện làm tốt nhiệm vụ được giao. 8
- Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành thống kê, kiểm tra lại CSVC và các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động của lớp mình phụ trách, từ đó báo cáo với Ban giám hiệu nhà trường có kế hoạch tu sửa hoặc bổ sung thêm đáp ứng với nhu cầu của nhóm lớp. Ngoài ra bản thân còn xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với nhận thức của trẻ, với điều kiện của lớp và dành nhiều thời gian cho trẻ khám phá trải nghiệm và chia sẻ, bày tỏ ý kiến của mình Tạo môi trường hoạt động khám phá khoa học phong phú, hấp dẫn với những đồ dùng, đồ chơi, các nguyên vật liệu khác nhau. *Giải pháp 2: Nâng cao nhận thức về việc tổ chức các hoạt động khám phá khoa học cho giáo viên mầm non. Trong những năm học trước, giáo viên chủ nhiệm các lớp thường tự tìm hiểu các kiến thức, phương pháp giáo dục khám phá khoa học cho trẻ một cách riêng lẻ nên có một số giáo viên chưa tích cực tự bồi dưỡng do đó hiểu chưa sâu về sự cần thiết cho trẻ khám phá khoa học, chưa biết cần phải có phương pháp nào để kết quả dạy là tốt nhất. Do đó ,đầu năm học tôi tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường mua bổ sung 1 số tài liệu có nội dung cho trẻ khám phá khoa học cho tất cả giáo viên tổ 4 - 5 tuổi ( Vd: tài liệu “ Trẻ mầm non khám phá khoa học”- của T.S Hồ Lam Hồng,Viện nghiên cứu sư phạm; “Các hoạt động khám phá khoa học của trẻ mầm non” của tác giả Trần Thị Ngọc Trâm+ Nguyễn Thị Nga ). Đồng thời, tôi đã tổ chức thảo luận với giáo viên trong tổ, trong trường về thực trạng và giải pháp ở đơn vị trong việc dạy trẻ khám phá khoa học cần thiết, qua đó giúp giáo viên hiểu được rằng chương trình học thường cho trẻ tiếp xúc từ từ với các kiến thức trong suốt năm học, và thực tế trẻ sẽ học tốt nhất khi có được cách tiếp cận một cách cân bằng, giáo viên biết cách phát triển các kỹ năng nhận thức, cảm xúc và xã hội của trẻ. Vì thế, khi trẻ tiếp thu được những kỹ năng giao tiếp cơ bản trong nhóm bạn thông qua các trò chơi kháp phá, thì trẻ sẽ nhanh chóng sẵn sàng và có khả năng tập trung vào việc học một cách tốt nhất. *Giải pháp 3: Xác định những nội dung khám phá khoa học cơ bản cần dạy trẻ ở lứa tuổi mầm non Đối với tâm sinh lý trẻ em dưới sáu tuổi thì có nhiều kỹ năng quan trọng mà trẻ cần phải biết trước khi vào trường tiểu học. Thực tế, kết quả của nhiều nghiên cứu đều cho thấy các điều quan trọng nhất trẻ phải học ở trường mầm non chính là những hoạt động khám phá, trải nghiệm như: 9
- - Cho trẻ khám phá và nhận ra những nét đặc trưng của vật thật, đồ vật và những sự vật hiện tượng quan sát được bằng cách sử dụng tất cả các giác quan một cách thích hợp. - Cho trẻ xem xét những nét giống nhau và khác nhau của các sự vật hiện tượng. - Cho trẻ quan sát, xem xét, phỏng đoán các sự vật hiện tượng xung quanh. - Dành thời gian cho trẻ tự khám phá, trải nghiệm và chia sẻ, bày tỏ ý kiến của mình. - Khích lệ trẻ suy nghĩ về những gì chúng đang nhìn thấy, đang làm và phát triển những suy nghĩ, ý tưởng của mình và quan tâm đến MTXQ. - Sử dụng những câu hỏi gợi mở giúp trẻ phát triển suy nghĩ. - Cho phép trẻ được hoạt động và làm những công việc phục vụ bản thân vì đó có thể là những bài học và trải nghiệm tốt cho trẻ về khoa học. - Tạo môi trường hoạt động phong phú, hấp dẫn với các ĐD – ĐC, các nguyên vật liệu khác nhau. - Trò chuyện, thảo luận về nội dung cần hoạt động. - Xem tranh, ảnh, băng hình về nội dung hoạt động. - Kể chuyện, đọc thơ, câu đố liên quan đến nội dung hoạt động. - Làm album ảnh, sách tranh - Tham quan, trải nghiệm, trò chuyện với những nhân vật quan trọng ( nếu có điều kiện). *Giải pháp 4: Xây dựng kế hoạch tổ chức cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi khám phá khoa học Để nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi khám phá khoa học, điều đầu tiên đối với giáo viên là phải x©y dùng kÕ ho¹ch vì x©y dùng kÕ ho¹ch lµ kh©u quan träng, gãp phÇn rÊt lín vµo viÖc thùc hiÖn nhiÖm vô n¨m häc ®¹t kÕt qu¶ .Mét kÕ ho¹ch khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi hîp lý khoa häc sÏ gióp cho ngêi thùc hiÖn dÔ dµng vµ thu ®îc kÕt qu¶ cao. Ngay tõ ®Çu n¨m häc ®îc sù ph©n c«ng cña ban gi¸m hiÖu t«i ®· tËp trung x©y dùng kÕ ho¹ch khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi, cô thÓ hãa tõng chñ ®Ò ,tõng tuÇn víi ®Çy ®ñ néi dung, biÖn ph¸p thùc hiÖn, thêi gian, ngêi thùc hiÖn, chọn nội dung phù hợp với nhận thức của trẻ và tình hình của lớp.. Khi kÕ ho¹ch ®· x©y dùng, ban gi¸m hiÖu duyÖt vµ ®îc triÓn khai hàng ngày cho trẻ tại lớp, cã sù ®¸nh gi¸ rót kinh nghiÖm sau mçi giai ®o¹n ®Ó bæ sung c¸c néi dung míi cho phï hîp ®Ó thùc hiÖn cã hiÖu qu¶. 10
- * Giải pháp 5: Xây dựng và khai thác hiệu quả môi trường cho trẻ khám phá khoa học: Môi trường lớp học đẹp và sáng tạo giúp trẻ thoả mãn nhu cầu vui chơi, giao tiếp, nhận thức, nhu cầu hoạt động cùng nhau của trẻ, vừa tạo cơ hội cho trẻ được hoạt động theo sở thích tích cực, độc lập, sáng tạo vận dụng những kỹ năng đó học vào các hoạt động khác, các tình huống trong quá trình hoạt động. Việc xây dựng môi trường khám phá khoa học và vui chơi cho trẻ sẽ là phương tiện, là điều kiện giúp trẻ hình thành các kỹ năng quan sát, phân tích, và những đam mê tìm hiểu khám phá. Chính vì vậy, khi vào đầu năm học mới tôi đã rất chú ý đến việc xây dựng môi trường lớp học, trang trí tranh, ảnh, trang tường, và các loại tranh sưu tầm, thay đổi thường xuyên theo chủ đề để trẻ có sự tri giác và khám phá theo khả năng của trẻ. Đặc biệt là góc “Bé với khoa học”, tôi sưu tầm, sắp xếp nhiều đồ dùng, đồ chơi phong phú, hấp dẫn nhằm giúp trẻ khơi dậy tính tò mò, óc sáng tạo, những hiểu biết về các sự vật, hiện tượng xung quanh và giáo dục trẻ thái độ ứng xử đúng đắn với thiên nhiên, với xã hội. Đối với góc chơi “Bé với thiên nhiên”, tôi thiết kế những hình ảnh có màu sắc bắt mắt, nội dung sáng tạo, phù hợp, chứa đựng những nội dung học tập, giúp trẻ hoạt động khám phá một cách tích cực và hiệu quả. Góc chơi có rất nhiều hình ảnh kích thích tính tư duy tìm hiểu khám phá cho trẻ như quá trình về sự phát triển của cây giúp trẻ hình thành những hiểu biết về sự sinh trưởng và phát triển của cây xanh. Bảng pha màu giúp trẻ hiểu biết về cách pha trộn màu sắc từ hai màu hay ba màu có thể tạo ra màu mà trẻ yêu thích. Hay những hình ảnh mang tính chất giáo dục giúp trẻ có những thái độ đúng đắn với thiên nhiên và sự vật xung quanh. Để phát triển toàn diện nhận thức cho trẻ thông qua góc chơi thì ngoài những hình ảnh mang tính lý thuyết, giáo viên cần cho trẻ được thực hành để trẻ được trải nghiệm và giải quyết tình huống một cách sáng tạo. Trong những giờ hoạt động góc tôi thường xuyên chuẩn bị chu đáo các đồ dùng để trẻ được chơi và tham gia hoạt động thực tế nhằm đem lại niềm vui cho trẻ, giúp trẻ phát triển tư duy, óc sáng tạo và quan tâm hơn đến khoa học một cách tự nhiên. (Chụp lại ảnh quan sát bồn hoa ở sân trường, góc thiên nhiên) 11
- ( trẻ tích cực tham gia vào hoạt động khám phá) Kêt quả xây dựng góc khám phá khoa học sáng tạo và hấp dẫn trẻ: học sinh lớp tôi đã rất tích cực tham gia vào các hoạt động khám phá, qua đó phát triển vốn hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh, phát huy khả năng tư duy sáng tạo. Trẻ lớp tôi luôn tò mò, tự đặt câu hởi về những sự vật, hiện tượng xung quanh với bạn, cô và người lớn. Các cháu còn biết tự tìm hiểu những điều trẻ chưa biết. *Giải pháp 6: Cho trẻ khám phá khoa học dưới nhiều hình thức khác nhau. Với đặc điểm tâm lý “Học bằng chơi, chơi mà học”. Trẻ 4-5 tuổi, tư duy của trẻ là tư duy trực quan hành động. Trẻ tri giác dưới đồ vật, sự vật qua các hình ảnh, vật thật. Nếu tổ chức cho trẻ tri giác quan sát các sự vật dưới nhiều hình thức khác nhau thì trẻ hứng thú học tập và tiếp thu bài học tốt hơn, bằng kinh nghiệm giảng dạy của bản thân tôi thấy nếu một tiết học đơn thuần cô chỉ cung cấp kiến thức cô đưa tranh ra cho trẻ quan sát, đàm thoại và cung cấp kiến thức cho trẻ thì tiết học trẻ học buồn chán, trẻ không tập trung. Nhưng, cũng tiết học đó mà thay đổi hình thức dạy dưới các dạng trò chơi hay các hình thức thi đua thì trẻ học sẽ tốt hơn, nhất là môn khám phá khoa học. Tôi đã chuẩn bị tốt các điều kiện như đồ dùng dạy học và các không gian để để trẻ được thực hành và trải nghiệm nhiều. Xuất phát từ tình hình trên tôi luôn luôn đặt ra cho mình là phải luôn đổi mới các hình thức tổ chức và các thủ thuật khác nhau khi cho trẻ 12
- khám phá khoa học. Tuỳ vào mỗi yêu cầu bài dạy tôi tổ chức các dạy tiết học dưới các hình thức khác nhau. Ví dụ, với bài cho trẻ quan sát các con vật, các cây, các loại hoa quả thì tôi có thể chuẩn bị bằng vật thật hoặc tranh ảnh và tổ chức dưới các dạng trò chơi để trẻ vừa chơi vừa quan sát tri giác các sự vật hiện tượng một cách tôt nhất. Hay tổ chức cho trẻ làm các thí nghiệm thì tôi chia trẻ về các nhóm để trẻ cùng nhau làm và khi tiến hành làm thí nghiệm tôi cho trẻ dự đoán hiện tượng gì sẽ xảy ra trước, trong và sau khi làm thí nghiệm. Như thế sẽ phát huy được tính mò, chủ động, khả năng tích cực hoạt động và lòng ham hiểu biết của trẻ. Chẳng hạn: Cho trẻ làm thí nghiệm “ không khí quanh chúng ta” tổ chức dưới dạng trò chơi. * Trò chơi bịt mũi: Cho trẻ bịt mũi, hỏi trẻ có thở được không? Vậy làm thế nào để thở được ? Cho trẻ đứng vào chỗ cô quy định, hỏi trẻ: con có thở được không? Cho trẻ đứng góc khác cùng với vài bạn nữa, hỏi trẻ: con có thở được không? Cho trẻ đứng tự do trong lớp, hỏi trẻ:con có thở được không? Lúc này tôi mới đặt vấn đề: chúng ta thở được là nhờ là nhờ có không khí, vậy không khí có ở đâu?( không khí có ở xung quanh chúng ta) Tôi kết luận: Như vậy không khí có ở quang chúng ta. Tôi tiếp tục đặt tình hình huống: thế không khí có bắt được không ( Có trẻ nói được, có trẻ nói không) Tôi hỏi tiếp: Làm thế nào để bắt được không khí ( lúc này các trẻ đưa ra rất nhiều ý kiến lấy ly, lấy chai, lấy hộp, để bắt không khí ) Tôi lấy cho mỗi trẻ một cái túi ni lon và yêu cầu “ Hãy lấy và bắt không khí vào túi ” mỗi trẻ có thể thực hiện một cách khác nhau : nắm bắt không khí xung quanh bỏ vào túi, với không khí cho vào túi nhưng các trẻ vẫn chưa thấy gì trong túi.Tôi tiếp tục gợi ý “ Các con hãy làm cách nào để túi phồng lên đi” trẻ phát hiện là mình phải thổi hơi vào túi và muốn giữ hơi trong túi thì phải xoắn hay cột túi lại ) Sau đó tôi giải thích: Không khí đang ở trong túi các con đấy!.. Tiếp theo tôi cho các trẻ chơi với túi không khí, lấy kéo cắt túi để thấy không khí xì ra, lấy kim nhọn đâm nhẹ sẽ thấy hơi thoát ra đó là không khí. 13
- Tiết học sôi động và vui vẻ hẳn lên các cháu hiểu biết thêm là: không khí luôn luôn ở bên cạnh con người, con người phải có không khí thì mới sống, mới thở được. Qua đó tôi thấy nếu cho trẻ tự khám phá trẻ sẽ rất hứng thú, kiến thức đến với trẻ nhẹ nhàng mà khắc sâu phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, để trẻ tự đừng đánh mất cái tôi của trẻ. Trong tiết học khám phá khoa học tôi lồng ghép tích hợp các môn học khác như toán, âm nhạc, tạo hình văn học để trẻ thêm hứng thú , ghi nhớ tốt hơn vấn đề sâu rộng hơn. * Sự kì diệu của nam châm. - Mục tiêu: Cho trẻ biết nam châm có thể hút các vật làm từ kim loại, còn những vật không làm bằng chất kim loại thì nam châm không hút. - Chuẩn bị: Cục nam châm, cái đinh, cái kéo, thìa nhôm, thước nhựa, cái bát nhựa và một số đồ dùng khác trong lớp. - Tiến hành: Cho trẻ quan sát những đồ dùng đã chuẩn bị gọi tên chúng và nêu chất liệu của từng đồ dùng. Mời 6 – 7 trẻ lên lấy 1 trong số những vật mà cô chuẩn bị hỏi trẻ: + Vật đó có tên là gì? làm bằng gì? + Cho trẻ đưa vật đó lại gần cục nam châm và trẻ lời xem chúng có hút nhau không và vì sao? Lần lượt cô cho các trẻ được thí nghiệm với các vật xung quanh lớp và đưa ra nhận xét, nam châm hút được những vật làm bằng gì ? Giải thích và kết luận: Nam châm chỉ hút được các vật làm bằng kim loại ngoài ra không hút được các vật làm từ các chất khác. * Khám phá về kẹo. - Mục tiêu: + Trẻ biết được đặc điểm của kẹo (Hình dáng, màu sắc,cứng, mềm, mùi vị ) + Trẻ biết cách làm kẹo dẻo: nguyên liệu, dụng cụ làm kẹo, cách thức làm kẹo và trang trí kẹo + Kỹ năng làm kẹo: trẻ biết dùng thìa để nạo chanh leo, cho đường và đánh tan, biết dùng khuôn để in trang trí kẹo 14
- + Rèn kỹ năng làm việc theo nhóm + Rèn và phát triển kỹ năng quan sát, ghi nhớ có chủ định + Nghe và trả lời đúng câu hỏi + Rèn sự khéo léo của đôi bàn tay + Trẻ hứng thú tham gia vào giờ học + Có ý thức kỷ luật khi tham gia trò chơi và làm kẹo cùng cô + Trẻ biết sử dụng kẹo hợp lý và biết giữ gìn vệ sinh răng miệng. - Chuẩn bị: + Mỗi nhóm một giỏ kẹo có các loại kẹo: kẹo sữa, kẹo oshi, kẹo mút, kẹo chip chip, kẹo socola + Logo cho mỗi đội (Kẹo xanh, kẹo đỏ, kẹo vàng) + Các nguyên vật liệu và dụng cụ làm kẹo dẻo: + Bột gelatin, chanh leo, siro, đường + Khuôn làm kẹo, bếp hồng ngoại, xoong, đũa, muôi, khay đựng kẹo, đĩa +Chuẩn bị 2 phòng học: 1 phòng kê sẵn bàn để làm kẹo, 1 phòng học có các vòng tròn có biểu tượng logo tương ứng với logo của mỗi đội +Tạp dề cho cô và trẻ -Tiến hành: +Món quà bí mật đội nhận được là gì? +Trong giỏ của đội có những loại kẹo gì? +Hãy kể 1 vài đặc điểm về loại kẹo mà cháu biết!(Cô gợi ý cho trẻ) + Kẹo cứng hay mềm? + Kẹo có màu gì? + Kẹo có vị gì? + Kẹo được làm bằng gì? + Ăn kẹo như thế nào cho hợp lý? + Nên ăn kẹo ít hay nhiều? + Ăn nhiều kẹo sẽ bị làm sao? + Nên ăn kẹo vào lúc nào? +Làm thế nào để bảo vệ răng miệng sau khi ăn kẹo? Giáo dục trẻ không nên ăn quá nhiều,và không nên ăn vào buổi tối. Sau khi ăn kẹo và các loại đồ ngọt chúng mình nhớ đánh răng hoặc súc miệng để bảo vệ răng miệng nhé 15
- Như vậy trong những khám phá khoa học trẻ được trực tiếp trải nghiệm rất vui vẻ hào hứng kích thích tư duy và làm phong phú vốn từ cho trẻ. Trong các tiết học khám phá khoa học tôi luôn thay đổi các thủ thuật để đưa các đối tượng ra cho trẻ quan sát và mỗi bài tuỳ thuộc vào đối tượng cho trẻ làm quen, tôi tìm cách vào bài khác nhau cũng có bài cho trẻ quan sát tri giác bằng vật thật, cũng có bài dùng tranh ảnh, băng hình, hoặc dùng câu đố để đưa ra giúp trẻ không bị nhàm chán lại dễ tiếp thu để trẻ ghi nhớ và chính xác hoá các biểu tượng của mình. *Giải pháp 7: Sưu tầm, sáng tạo các trò chơi thực nghiệm và tổ chức có hiệu quả trong các chủ đề. Thiên nhiên bao la rộng lớn là một hành tinh đầy ắp những bí mật khơi dậy trí tưởng tượng của trẻ thơ, chính vì vậy để khơi dậy cho trẻ niềm đam mê khám phá khoa học giáo viên cần chú ý tới cảm nhận của trẻ và cách trẻ khám phá thế nào để nuôi dưỡng tình yêu thiên nhiên trong trẻ chứ không phải là những kiến thức trẻ tiếp nhận được. Bản thân tôi là người yêu thích bộ môn khám phá nên tôi và đồng nghiệp sưu tầm, sáng tạo trò chơi thực nghiệm, đặc biệt là các trò chơi thực nghiệm giúp trẻ phát triển lành mạnh hơn cả về thể chất và tình yêu, sự hiểu biết về sự vật hiện tượng, lòng nhân ái và khả năng tìm hiểu môi trường xung quanh. Khi sáng tạo các trò chơi thực nghiệm giúp trẻ khám phá khoa học, tôi luôn lưu ý đến các yêu cầu đối với các trò chơi thử nghiệm như: những thử nghiệm tiến hành phải có sự thay đổi rõ ràng để giúp trẻ dễ nhận biết. Thử nghiệm không đòi hỏi điều kiện đặc biệt, dễ thực hiện, là những hiện tượng diễn ra trong cuộc sống. Những thử nghiệm không được gây thiệt hại cho vật làm thử nghiệm ( Ví dụ : Làm chết cây, chết con vật). Không chọn thử nghiệm có thời gian quá lâu vì trẻ dễ quên mất những gì xảy ra ban đầu. Phải đảm bảo an toàn cho trẻ trong quá trình thử nghiệm ( an toàn về dụng cụ, vật liệu). 16
- ( Trẻ chơi trò chơi thử nghiệm chăm sóc cây) Kết quả, tôi cùng đồng nghiệp, tổ chuyên môn khối 4-5 tuổi đã họp bàn và tổ chức một số trò chơi thực nghiệm dựa theo bảng xây dựng kế hoạch các chủ đề từ đầu năm học, giúp giáo viên dễ dàng lựa chọn đề tài, chuẩn bị đồ dùng và tổ chức hoạt động có hiệu quả. Cụ thể tôi đã sáng tạo và tổ chức một số trò chơi thực nghiệm giúp trẻ khám phá khoa học theo chủ đề như sau: 1. Chủ đề : Bản thân VD : Trò chơi thử nghiệm : Truyền tin * Mục đích: - Trẻ biết được tác dụng của các giác quan thông qua trò chơi - Trẻ biết phối hợp ăn ý với bạn trong nhóm *Chuẩn bị: - 2 quả bóng bay - Một số tranh về các giác quan * Cách tiến hành: 17
- - Cho trẻ đầu hàng lên nhìn bức tranh về các giác quan và về hàng truyền tin bằng cách áp sát quả bóng bay vào tai bạn đứng thứ hai và cứ như vậy cho tới trẻ cuối cùng, Trẻ cuối cùng sẽ đoán tên giác quan trong bức tranh mà cô yêu cầu *Giải thích và kết luận: Quả bóng bay khi thổi to lên sẽ có khí ở bên trong. Vì vậy khi áp tai vào quả bóng bay sẽ nghe được tiếng vang của người nói ở bên vọng sang 2. Chủ đề : Gia đình VD: Trò chơi thử nghiệm : Vật chìm – vật nổi * Mục đích: Trau dồi óc quan sát, khả năng dự đoán và phân loại, giúp trẻ nhận biết có những chất liệu nổi - chìm trong nước. (Trẻ chơi thử nghiệm : Vật chìm – vật nổi). * Chuẩn bị: - 2 thùng đựng đầy nước - 2 cái thìa inox ( sắt, nhôm ), 2 cái đĩa bằng sứ, 2 cái đĩa bằng inox - 2 cái thìa bằng nhựa, 2 đĩa bằng nhựa * Cách tiến hành: - Cho trẻ phỏng đoán đồ dùng chìm nổi và gắn kết quả vào bảng dự đoán 18
- - Cô cho trẻ thả từng đồ dùng vào nước. Trẻ nêu nhận xét và giải thích lí do tại sao đồ dùng làm bằng chất liệu inox,sắt, nhôm, bằng sứ lại chìm xuống dưới nước, còn đồ dùng làm bằng nhựa thì nổi trên mặt nước. Sau đó cho trẻ gắn kết quả vào bảng 3.Chủ đề : Nghề nghiệp VD: Trò chơi thử nghiệm: Hỗn hợp cát, vôi, xi măng * Mục đích - Trẻ nhận biết được sự khác nhau của các nguyên vật liệu và sự thay đổi khi trộn các nguyên vật liệu đó lại với nhau. Nhận ra sự thay đổi khi đổ nước vào trộn thành một hỗn hợp chất nhão - Biết được các nguyên vật liệu dùng để xây nhà * Chuẩn bị - Một ít cát, vôi, xi măng đựng trong hộp - Xô đựng nước sạch, cốc múc nước - Khay đựng, bay nhỏ, xẻng nhỏ - Giấy nilông để các nguyên vật liệu * Cách tiến hành Giáo viên cho trẻ quan sát các loại nguyên vật liệu, sờ và nêu nhận xét. Sau đó cho trẻ trộn nguyên liệu và nêu nhận xét sự khác biệt sau khi trộn *Giải thích và kết luận: Các nguyên liệu cát, vôi, xi măng khi trộn vào nước sẽ kết dính lại với nhau để tạo thành hợp chất, có tác dụng kết nối các viên gạch lại với nhau để tạo thành đồ vật theo ý muốn, có thể trang trí thành 1 bức tranh. 4. Chủ đề: Động vật VD: Trò chơi thử nghiệm: Bóng hình các con vật * Mục đích: - Trẻ nhận biết ánh sáng và bóng tối, các hình được tạo ra bởi ánh sáng và bóng tối cùng kết hợp với các hoạt động từ ngón tay - Rèn luyện sự khéo léo và các cơ nhỏ của các ngón tay * Chuẩn bị: - Khoảng trống và không gian trên tường - Bóng đèn chiếu ánh sáng lên tường * Cách tiến hành: 19
- - Cô chiếu ánh sáng lên tường và dùng các ngón tay tạo thành bóng hình các con vật. Cô giáo động đậy các ngón tay để cho hình các con vật thêm sinh động - Cho trẻ tạo thành hình bóng các con vật và thi xem bạn nào tạo thành nhiều hình các con vật nhất * Giải thích và kết luận: Ánh sáng khi vào trong bóng tối nếu chiếu lên tường ở một khoảng không gian sẽ tạo ra bóng hình của vật được ánh sáng chiếu lên. Kích thước vật sẽ được phóng to hơn nếu đưa sát vào bóng đèn, và nhỏ hơn nếu đưa gần bức tường và xa bóng đèn 5. Chủ đề: Thực vật VD: Trò chơi thực nghiệm: Hoa nở như thế nào? * Mục đích: - Trẻ sử dụng sự khéo léo của đôi bàn tay để gấp hoa giấy thành nụ hoa - Trẻ biết quá trình hoa nở: Từ nụ thành hoa. * Chuẩn bị: - Chậu đựng nước. - Hoa giấy các kiểu, các màu. * Cách tiến hành: - Trẻ tạo nhóm lấy hoa giấy ra gấp, xếp thành nụ hoa và thả vào chậu nước xem có hiện tượng gì xảy ra. - Cho trẻ nêu ý kiến về các hiện tượng trẻ quan sát được. * Giải thích và kết luận: Nụ hoa làm bằng giấy khi thả xuống nước, đợi một thời gian ngắn nước sẽ ngấm vào trong làm các cánh hoa bung ra giống như nụ hoa đang nở thành bông hoa 6. Chủ đề: Phương tiện giao thông VD: Trò chơi thử nghiệm: Đồ chơi chìm và nổi * Mục đích: - Giúp trẻ nhận biết và phân biệt được những đồ chơi chìm và nổi trên mặt nước - Nhận biết có những đồ chơi chìm – nổi trên mặt nước là tùy thuộc vào chất liệu khác nhau * Chuẩn bị: 20

