SKKN Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở Trường Mầm non Tam Hồng

doc 22 trang tamdan 07/10/2025 1490
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở Trường Mầm non Tam Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_giao_duc_tinh_tu_lap_cho_tre_mau_giao.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở Trường Mầm non Tam Hồng

  1. BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu. Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước. Những người làm cha, làm mẹ sẽ hạnh phúc biết bao khi con của họ là những đứa trẻ khỏe mạnh, thông minh, chủ động sáng tạo, tự lập trong mọi tình huống. Vì vậy nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục trẻ em không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là của cả gia đình và toàn xã hội. Giáo dục mầm non hiện nay giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên tính cách đặc biệt là sự phát triển của trẻ sau này. Việc đổi mới phương pháp giáo dục mầm non là điều hết sức cần thiết để có thể giúp trẻ tự khám phá và tìm hiểu bằng chính sự sáng tạo của mình một cách tự nhiên nhất có thể. Đây chính là xu hướng mới trong giáo dục mầm non ở nước ta. Hiện nay, để đánh giá một ngôi trường mầm non tốt cho trẻ không phải chỉ đơn thuần là nơi có đầy đủ cơ sở vật chất, thoáng mát, rộng rãi mà còn phải đảm bảo được chương trình giáo dục tiên tiến, giáo trình phát triển đa dạng, để trẻ “học bằng chơi, chơi mà học”. Ngoài ra, trường học còn phải là nơi giúp cho trẻ trải nghiệm được những kỹ năng sống đầu đời từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. “Nếu như bắt cho con một con cá, con sẽ có cá ăn một ngày. Nhưng nếu dạy con bắt cá, con sẽ có cá ăn cả đời”. Xuất phát từ tư duy này, cha mẹ và cô giáo nên dạy con tính tự lập, sống bằng đôi tay của mình ngay từ nhỏ. Như chúng ta đã biết, ngay từ khi sinh ra trẻ đã có khả năng tự lập, bắt đầu là nhận biết được những người thân yêu của mình, sau đó trẻ phân biệt được mối quan hệ giữa những người xung quanh và vị trí của mình trong gia đình. Trong từng lứa tuổi, khả năng tự lập được hình thành và phát triển đồng thời phát huy được những năng lực vốn có của trí tuệ nhờ đó trẻ có thể tự mình làm một việc gì đó mà không cần sự trợ giúp của người khác. Thực tế hiện nay cho thấy việc giáo dục tính tự lập ở trẻ chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Nhiều trẻ còn có tính ích kỉ, vụng về, thiếu tự lập trong cuộc sống thậm chí còn ỉ lại, lười biếng mất tự tin. Vậy làm thế nào để giáo dục tính tự lập cho trẻ đạt hiệu quả tốt nhất? Tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm non” nhằm góp phần giúp trẻ phát triểm toàn diện và có kĩ năng sống cơ bản cho cuộc sống của trẻ. 2. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm non”. 1
  2. 3. Tác giả sáng kiến. - Họ và tên: Nguyễn Thị Thu - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường MN Tam Hồng – huyện Yên Lạc – tỉnh Vĩnh phúc. - Số điện thoại: 0989565813 - Email: [email protected] 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Thu - Trường MN Tam Hồng - Huyện Yên Lạc - Vĩnh Phúc 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Nghiên cứu trong phạm vi nhà trường về thực trạng giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi. 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày 05 tháng 09 năm 2020 đến 25 tháng 05 năm 2021. 7. Bản chất của sáng kiến 7.1. Về nội dung của sáng kiến: 7.1.1. Cơ sở lý luận. Tính tự lập là một trong những tính cách cơ bản, đóng vai trò quan trọng giúp trẻ khi trưởng thành có thể bản lĩnh hơn, tự tin hơn, vững vàng hơn, thành công hơn trong cuộc sống . Đặc biệt là trẻ có thể tự lo cho mình thật tốt dù không có bố mẹ, người lớn bên cạnh hay khi gặp bất kỳ tính huống khó khăn nào. Giáo dục khả năng tự lập cho trẻ có ý nghĩa quan trọng trong mọi giai đoạn hình thành nhân cách, góp phần đặt nền tảng vững chắc đầu tiên về phát triển thể lực, trí tuệ để đào tạo những chủ nhân tương lai cho đất nước. Để tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện, mục đích của giáo dục mầm non là định hướng tất cả khả năng tự lập của trẻ, góp phần hình thành cho trẻ những cơ sở chuẩn mực ban đầu về tính cách, phẩm chất cần thiết như: mạnh dạn, tự tin, tự lập, sáng tạo, linh hoạt, tự giác... Từ những biểu hiện của trẻ chúng ta nhận thấy khả năng tự lập có ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến trí tuệ, cảm xúc và trong các hoạt động. Trẻ tự tin, tự kiểm soát, điều khiển hành vi của mình. Tính tự lập quyết định việc hình thành nhân cách, trí tuệ, cảm xúc của trẻ. Bởi vậy, giáo dục khả năng tự lập cho trẻ ở cấp học mầm non là một nhiệm vụ hết sức cần thiết. 7.1.2. Thực trạng của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm non Tam Hồng 2
  3. * Đặc điểm tình hình chung Năm học 2020- 2021 bản thân tôi được nhà trường phân công phụ trách lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi tại khu trung tâm của trường với tổng số 28 trẻ, hầu hết các cháu là trẻ mới đến trường. Trong công tác giáo dục tính tự lập cho trẻ ở lớp cũng như ở trường tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn như sau: * Thuận lợi : Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục và chăm sóc nuôi dưỡng cho 100% trẻ đến trường, chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên trong trường. Tạo mọi điều kiện cho giáo viên đi học các lớp Đại học Giáo dục mầm non và Trung cấp Lý luận chính trị để nâng cao trình độ. Giáo viên được tham gia nhiều hội thi như: Thi làm đồ dùng, đồ chơi, thi viết sáng kiến kinh nghiệm và thi giáo viên dạy giỏi các cấp để có cơ hội cọ sát và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. 100% trẻ được ăn bán trú tại trường tạo điều kiện cho giáo viên trong việc chăm sóc giáo dục và chăm sóc nuôi dưỡng. Lớp học có hai giáo viên chủ nhiệm có trình độ chuyên môn trên chuẩn, luôn tâm huyết với nghề, có lòng yêu thương trẻ, tận tình với công việc, có ý thức học hỏi đồng nghiệp, học qua các phương tiện thông tin đại chúng. Biết cùng nhau đưa ra các biện pháp giáo dục tính tự lập sao cho phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ lớp mình. Bản thân tôi luôn có ý thức phấn đấu vươn lên, thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu tài liệu như tạp chí, thông tin trên mạng có liên quan đến việc chăm sóc và giáo dục trẻ để áp dụng vào việc chăm sóc giáo dục trẻ hằng ngày nhất là việc giáo dục tính tự lập cho trẻ. Tham gia đầy đủ các buổi bồi dưỡng chuyên môn do Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức, tham gia sinh hoạt chuyên môn đầy đủ, dự giờ đồng nghiệp thường xuyên. Từ đó tôi được học tập, củng cố kiến thức nâng cao nghiệp vụ của bản thân. Đa số phụ huynh học sinh quan tâm, ủng hộ, tin tưởng gửi con, đoàn kết thống nhất cao với kế hoạch phát triển của nhà trường, của lớp. Luôn nhiệt tình hưởng ứng các hoạt động và đặc biệt luôn ủng hộ các biện pháp của cô giáo đưa ra để giáo dục tính tự lập cho trẻ. *Khó khăn Về trẻ: Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống phát triển hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử...nên đa số trẻ thụ động, lười biếng. Bên cạnh đó trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm, không có tính tự lập, ích kỉ, lãnh cảm với môi trường xung quanh. Một số trẻ mới đi học lớp mầm non năm đầu nên khả năng nhận thức của trẻ không đồng đều, việc truyền thụ kiến thức đến trẻ còn gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều trẻ khả năng tự lập còn rất yếu, còn rụt rè nhút nhát, chưa có nề nếp thói 3
  4. quen trong sinh hàng ngày ở lớp. Bên cạnh đó, có những cháu nghe nhưng chưa hiểu được các yêu cầu của cô, thích tự làm theo ý mình nên gây khó khăn cho tôi trong việc rèn nề nếp cho các cháu. Tổng số trẻ được khảo sát đầu năm: 28 trẻ, trong đó nữ 13 trẻ, nam 15 trẻ. Đánh giá kỹ năng tự lập của trẻ Trẻ thích nghi Trẻ biết làm Trẻ tự giác với các hoạt những việc đơn thực hiện các Thời gian Sĩ số động ở trường, giản tự phục vụ công việc lớp bản thân thường ngày ở lớp Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Tháng 9/2020 Chưa áp dụng 28 12 43 14 50 10 36 sáng kiến Nhận xét chung: - Trẻ thích nghi với các hoạt động ở trường, lớp của trẻ đạt: 43% - Trẻ biết làm những việc đơn giản tự phục vụ bản thân của trẻ đạt: 50% - Trẻ tự giác thực hiện các công việc thường ngày ở lớp của trẻ đạt: 36% Như vậy chất lượng tính tự lập của trẻ như: thích nghi với các hoạt động ở trường, lớp; Trẻ biết làm những việc đơn giản tự phục vụ bản thân; Trẻ tự giác thực hiện các công việc thường ngày ở lớp còn chưa cao. * Về giáo viên: Đối với giáo viên đa số đã nhận thức đầy đủ và có thái độ đúng đắn trong giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo. Song về hướng dẫn trẻ hoạt động để hình thành tính tự phục vụ lại rất hạn chế. Các hoạt động chưa thu hút trẻ, chưa phát huy tính tích cực sáng tạo của trẻ, thiết kế các hoạt động rèn tính tự lập cho trẻ đạt hiệu quả chưa cao. Hiệu quả đạt được phụ thuộc vào cách thức tổ chức và đổi mới hình thức, phương pháp vào tiết dạy ở trường, lớp mầm non. Nếu hoạt động giáo dục tổ chức còn cứng nhắc, cô giáo chỉ ôm đồm về kiến thức thì sẽ không phát huy được tính tự lập ở trẻ.; * Về phụ huynh: Một số phụ huynh chưa hiểu được tầm quan trọng về giáo dục “Lấy trẻ làm trung tâm” trong các hoạt động, chưa có sự phối hợp với giáo viên tạo điều kiện đẻ trẻ được trải nghiệm những việc đơn giản khi ở nhà. Cha mẹ còn có nhiều sai lầm về giáo dục nói chung và giáo dục tính tự lập cho trẻ nói riêng. Thứ nhất là nuông chiều con quá mức chỉ biết hưởng thụ sau này trở thành người có tính ích kỉ, vụng về, thiếu tự lập trong cuộc sống. Thứ hai là không tin vào khả năng của trẻ, trẻ muốn làm nhưng thấy trẻ làm lóng ngóng, chậm chạp thì tỏ ra khó chịu, nên người lớn thường “sốt ruột” và làm 4
  5. thay trẻ, dẫn đến trẻ có thái độ bướng bỉnh dần dần tạo ra sự ỉ lại, lười biếng mất tự tin ở trẻ. Từ thực trạng trên, với lòng yêu nghề mến trẻ và tâm huyết với nghề tôi mong muốn tạo cho trẻ có những nền nếp tốt, thói quen tốt, tính tự lập cao để tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện về nhân cách. Vì vậy tôi đã mạnh dạn áp dụng “Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm non”. 7.1.3. Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm non. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường giáo dục nhằm kích thích tính tự lập ở trẻ. Trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, thì môi trường học tập có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc học tập và tiếp thu kiến thức của trẻ. Trẻ em vốn rất hiếu kỳ, chúng tò mò mong muốn được khám phá tất cả mọi vật xung quanh. Những hình ảnh, những ấn tượng mà trẻ thu nhận được trong những năm tháng tuổi thơ sẽ hằn sâu trong trí nhớ suốt cả cuộc đời của trẻ. Những điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển sau này của trẻ. Chính vì vậy, tôi luôn tâm niệm sẽ trang bị cho trẻ một thế giới tự nhiên, một môi trường học tập tốt nhất ở ngay tại khu vực lớp và trường của trẻ. Bản thân tôi đã xây dựng cho trẻ môi trường lớp học với nhiều tình huống hấp dẫn, tạo ra sự hứng thú và ham muốn được tự mình làm, để trẻ có cơ hội thực hành các kĩ năng tự lập cho bản thân. Trước hết tôi làm đẹp môi trường lớp học từ cách bố trí, sắp xếp trong lớp, trưng bày đồ dùng, đồ chơi sao cho hấp dẫn, đẹp mắt mà vẫn gọn gàng ngăn nắp. Xây dựng các góc hoạt động khác nhau trong lớp nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ được nhiều hơn, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng hơn. Giúp trẻ tìm hiểu và khám phá cái mới, hoạt động với đồ vật và rèn luyện kỹ năng tự lập cho bản thân. Trong lớp tôi đã bố trí các góc như sau: Góc yên tĩnh xa góc hoạt động ồn ào Ví dụ: Góc xây dựng và góc phân vai ở gần nhau và xa góc sách, góc xây dựng tránh lối đi lại. Các góc có khoảng rộng, cách nhau hợp lý để bảo đảm an toàn và vận động cho trẻ. Sử dụng giá dựng đồ chơi quay lại tạo thành ranh giới cho góc chơi. Ranh giới ở các góc không che tầm nhìn của trẻ và không cản việc quan sát của giáo viên. Thay đổi vị trí các góc sau mỗi chủ đề để tạo cảm giác mới lạ, kích thích hứng thú của trẻ. Bên cạnh việc sắp xếp phù hợp tôi còn trang trí các góc chơi ở lớp mình một cách sáng tạo theo hướng mở linh hoạt. Đối với mầm non, việc trang trí không chỉ đẹp, ngộ nghĩnh, màu sắc bắt mắt mang tính giáo dục mà còn phải phù hợp với chủ đề, với từng góc chơi, với nội dung chơi của trẻ, đáp ứng được nhu cầu khám phá sáng tạo, trí tò mò thích cái mới, cái lạ của trẻ. 5
  6. Ví dụ: Ở góc phân vai tôi trang trí mô phỏng các nhân vật như đang làm bác sĩ, đang làm nội trợ với khung cảnh sinh động gần gũi quen thuộc với trẻ. Bên cạnh đó, tôi còn trang trí mảng “Bé tập làm nội trợ”, “gia đình” với các hình ảnh mô phỏng bé đang tự chải tóc, tự nhặt rau, quét nhà, tự mặc quần áo Qua cách bố trí, sắp đặt các mảng, các góc chơi hợp lí ở lớp mình, tôi nhận thấy trẻ hoạt động tích cực hơn, có hiệu quả hơn. Trẻ được trao đổi, giao lưu với nhau thoải mái mà không ảnh hưởng đến các góc khác. Trẻ có không gian riêng yên tĩnh để hoạt động. Thỏa mãn nhu cầu hoạt động, sáng tạo và tự lập của trẻ. Để thỏa mãn nhu cầu chơi, kích thích tính tò mò ham hiểu biết của trẻ thì bản thân tôi không chỉ trang trí ở trong lớp mà còn trang trí ở hiên chơi và khu vực bên ngoài sân trường. Khu vực ngoài hiên tôi xây dựng góc thiên nhiên là nơi dành cho các hoạt động chăm sóc cây cối: Nhặt cỏ, bắt sâu, tưới nước, ngoài ra còn là nơi tìm đọc các loại sách về thiên nhiên, các tranh ảnh về thế giới tự nhiên. Ở chính nơi này các bé được đắm mình thực sự trong thế giới tự nhiên của trẻ, khiến cho trẻ bị hấp dẫn bị thu hút từ đó trẻ đã có thể cảm nhận sự vật hiện tượng, được trải nghệm chúng một cách tự nhiên nhất. Môi trường vui chơi ngoài trời cũng được tôi lựa chọn để giúp trẻ có được sự tự lập cao. Ví dụ: Khi trẻ đang chơi mà không may bị ngã nhẹ, cô giáo không nên chạy lại đỡ trẻ ngay, cô nên khuyến khích trẻ, trẻ có thể tự đứng dậy không cần đợi cô hay cha mẹ tới đỡ, hoặc có thể bạn khác đẩy bạn mình ngã có thể chạy lại đỡ bạn lên và dẫn bạn lại chỗ cô. Bên cạnh đó, gia đình phải xây dựng cho trẻ những ý thức tự lập ngay từ sớm như: Trẻ tự chuẩn bị đồ để đi học, trẻ tự đi lấy sữa, tự lấy ba lô Hãy xây dựng môi trường thân thiện cho trẻ. Từ cách xây dựng môi trường giáo dục đó mà lớp tôi đã hoạt động tích cực, tự giác, hứng thú, say mê không còn nhàm chán, rập khuôn và máy móc như trước nữa. Trẻ thích được tự làm những công việc đơn giản không còn dựa dẫm vào cha mẹ, cô giáo và người khác. Biện pháp 2: Giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua giờ đón trẻ, trả trẻ. Như chúng ta đã biết ở bậc học mầm non thì hoạt động đón, trả trẻ là cơ hội để giáo viên- trẻ- phụ huynh được trao đổi những thông tin về những thói quen và tính tự lập. Vì vậy trước hết cô giáo phải có: Tác phong nhanh nhẹn, ăn mặc gọn gàng, lịch sự, trao đổi thân thiện với phụ huynh về những công việc của trẻ, hướng dẫn trẻ tự làm một số việc đơn giản tự phục vụ bản thân. Thông qua giờ đón, trả trẻ giúp hình thành thói quen cất đồ dùng cá nhân gọn gàng, ngăn nắp đúng nơi qui định, nếu trẻ chưa làm được cô giáo sẽ nhắc nhở trẻ, khích lệ khi trẻ làm được. 6
  7. Khi trò chuyện với trẻ, kể cho trẻ nghe những câu truyện ngắn có nội dung giáo dục tính tự lập qua đó củng cố thêm cho trẻ những kiến thức để trẻ tự điều chỉnh và thực hiện tốt cho bản thân. Muốn hình thành một hành động cho trẻ thì dễ, nhưng việc hình thành thói quen cho trẻ thì rất khó, người ta nói: Muốn có thói quen thì phải gieo hành động. Chính thói quen sẽ gieo nên tính cách và số phận con người. Đó chính là điều mỗi giáo viên và cha mẹ cần thuộc lòng. Và muốn thói quen hình thành ở trẻ thì cha mẹ và cô giáo cần rèn luyện cho trẻ nhiều lần và rèn mọi lúc, mọi nơi. Để trẻ đạt được việc tự lập hoàn toàn, tôi đã thực hiện các quá trình “Cùng hành động” nghĩa là cho trẻ làm cùng cô. Khi cùng làm với trẻ tôi thường kết hợp giảng giải, giải thích cho trẻ biết lý do và cách thức hành động. Ví dụ: Khi trẻ mới đến trường phải cất đồ dùng cá nhân vào đúng ngăn tủ có kí hiệu của mình, tôi đi cùng trẻ đến ngăn tủ đó và chỉ cho trẻ nhận ra đây là ngăn tủ của trẻ. “Con sẽ cất ba lô, quần áo của con vào trong đó, trước khi cất con phải gấp quần áo gọn gàng đã nhé”. Tôi còn giải thích cho trẻ khi cất đúng ngăn của mình thì khi đến giờ về lấy rất dễ dàng. Không những vậy, ngày nào tôi cũng cho trẻ gấp quần áo gọn gàng rồi cất vào ngăn tủ của mình. Trước khi ra về trẻ tự kiểm tra lại đồ dùng của mình. Sau một, hai lần tôi nhắc nhở và ngày nào trẻ cũng được thực hành các thao tác đó nên trẻ cất và lấy đồ dùng rất thành thạo và không cần đến sự giúp đỡ của người lớn nữa. Như vậy thông qua giờ đón, trả trẻ giúp trẻ học được nhiều thói quen tốt và tính tự lập để trẻ tự tin hơn có kỹ năng sống tốt hơn trong cuộc sống. Biện pháp 3: Giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua hoạt động chung Ba tuổi là mốc rất quan trọng đối với trẻ. Ở độ tuổi này, trẻ bắt đầu hình thành khả năng tự suy nghĩ và chúng ta có thể nhận ra trẻ bắt đầu có dấu hiệu tự lập. Vì vậy, cần phải đặc biệt tinh ý để nhận ra sự thay đổi của bé trong giai đoạn này và hỗ trợ cũng như giúp bé bước đầu bồi dưỡng khả năng tự lập của mình. Trong các tiết học cô luôn khuyến khích động viên trẻ tự tin, mạnh dạn, biết hoạt động độc lập và hoàn thành sản phẩm của mình. Cô giáo là người dẫn dắt trẻ hoạt động từ đó trẻ nắm được vai trò nhiệm vụ của mình. Trẻ hứng thú và tích cực hơn hoạt động vận động nhanh nhẹn hoạt bát hơn, rèn luyện sự khéo léo của đôi bàn tay. Phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, trẻ sẽ chủ động trong mọi hoạt động không ỷ lại người khác. Biết tự mình hoàn thành một bức tranh theo ý tưởng của mình, một bài tập, một vai chơi. Mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình về một sự vật hiện tượng. Trong giờ làm quen với văn học, khám phá môi trường xung quanh, làm quen với toán Nhờ sự dẫn dắt của cô, trẻ có thể nói lên ý kiến của mình, nhận định của mình về nội dung, vấn đề đang học. Từ các môn học, giáo dục trẻ nền 7
  8. nếp, thói quen biết lấy, cất đồ dùng đúng nơi quy định. Giữ gìn đồ dùng đồ chơi. Sắp xếp đồ dùng đồ chơi ngăn nắp gọn gàng. Biết làm những việc tự phục vụ mình, hình thành cho trẻ một thói quen tốt tự lập không ỷ lại vào người khác Ví dụ: Giờ hoạt động âm nhạc: Bài hát “ Vui đến trường” cô giáo dục trẻ trước khi đi học phải biết đánh răng rửa mặt, thay quần áo, chuẩn bị đồ dùng để đi học. Giờ hoạt động khám phá môi trường xung quanh: Chủ đề bản thân các bộ phận cơ thể cô giáo dục trẻ biết giữ gìn vệ sinh cá nhân biết rửa mặt, tắm, thay quần áo Hoạt động làm quen với tác phảm văn học: Bài thơ “ Mèo đi câu cá” Giáo dục trẻ biết chăm chi lao động tự phục vụ bản thân Trong giờ học đối với các hoạt động cần đến đồ dùng của trẻ, tôi chỉ chuẩn bị đồ dùng đặt sẵn trên bàn sau đó cho trẻ tự lên lấy đồ dùng học tập về vị trí ngồi của mình, kết thúc tiết học tôi cho trẻ tự cất đồ dùng học tập đúng nơi qui định. Ví dụ: Trong giờ học làm quen với toán tôi đã chuẩn bị rổ đồ dùng và bảng cho mỗi trẻ nhưng tôi đặt chung vào một bàn tôi cho mỗi trẻ lên lấy một rổ và một bảng về chỗ của mình để học. Sau khi học xong tôi cũng cho trẻ cất đồ dùng về đúng vị trí. Hay trong giờ học tạo hình cần đến hộp màu tôi thường nhờ trẻ chuẩn bị bàn học và hộp màu cho các bạn. Được tự lấy đồ dùng học tập như vậy tôi thấy trẻ rất tích cực, hứng thú học và luôn muốn khám phá xem mình được học gì ở các đồ dùng đó, giờ học nào của lớp tôi đều thấy trẻ hứng thú từ đầu giờ học đến cuối giờ học. Qua đó tôi còn rèn luyện cho trẻ thói quen gọn gàng ngăn nắp, lấy đâu cất đấy. Trẻ tự cất đồ dùng sau khi học xong Với biện pháp này đã giúp cho trẻ không còn nhút nhát mà rất mạnh dạn, tự tin, tính tự lập của trẻ được nâng cao rõ rệt. 100% trẻ lớp tôi rất hào hứng tham gia vào hoạt động hàng ngày, các hoạt động do tôi tổ chức đều đem lại kết quả cao. 8
  9. Biện pháp 4: Giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua hoạt động chơi * Giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua hoạt động góc: Các hoạt động vui chơi tại trường cũng được lồng ghép các kỹ năng sống để dạy trẻ tính tự lập. Trong đó không thể không nhắc đến hoạt động chơi ở các góc, nó có tác dụng thúc đẩy phát triển tốt khả năng tự lập cho trẻ. Khi tham gia hoạt động góc, cô giáo có phát tín hiệu bằng một bài hát “Đồ chơi của lớp, chơi xong ta cất, kẻo mất bạn ơi, ta giữ đồ chơi, cho bền cho đẹp”. Sau khi nghe bài hát, trẻ sẽ tự thu xếp đồ chơi lại và cất gọn gàng, đúng vị trí ban đầu. Đây là một trong những hoạt động rèn cho trẻ tính kỹ luật và nền nếp trong cuộc sống. Vui chơi - nhất là trò chơi phân vai chính là một hoạt động phản ánh thực cuộc sống xã hội thu nhỏ. Khi tham gia chơi thì trẻ được đứng ở vị trí chủ thể của hành động chơi, trẻ có thể được tự mình quyết định làm lấy những gì mà mình thích chứ không phải là những gì người khác ép buộc. Vì vậy, trong khi chơi xuất hiện ở trẻ sự tích cực tự nguyện. Hoạt động vui chơi đối với trẻ là hoạt động để rèn luyện các chức năng tâm lý, sinh lý. Chơi là để phát triển các mặt thể chất và tinh thấn. Chơi là để học hỏi làm người là để phát triển nhân cách một cách toàn diện. Với những ý nghĩ to lớn đó, có thể khẳng định rằng: Chơi cũng là cách để rèn luyện và phát huy khả năng tự lập. Hơn bất cứ hoạt động nào, trong trò chơi, trẻ được thể hiện khả năng tự lập của mình. Trẻ luôn luôn mong muốn mình được tự giải quyết lấy mọi tình huống, chúng có xu hướng tự hoạt động mà không cần sự giúp đỡ của ai. Trẻ có thể tự tiến hành trò chơi và chơi một cách vui vẻ, hăng say, thích thú. (Trẻ tự chọn góc chơi và vai chơi của mình) 9
  10. Là một giáo viên mầm non chắc hẳn ai cũng biết mỗi khi đến giờ hoạt động góc trẻ đều tỏ ra rất thích thú, phấn khởi. Không những vậy hoạt động vui chơi là hoạt động quan trọng nhất nó giữ vai trò chủ đạo ở lứa tuổi này, qua hoạt động này làm biến đổi về chất trong toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ. Vì vậy đối với trẻ ở lứa tuổi này, đồ vật không phải là thứ để trẻ nghịch như trước đây mà bây giờ qua chơi với đồ vật, đồ chơi giúp trẻ khám phá chức năng và phương thức sử dụng tương ứng (như cái thìa dùng để xúc cơm ăn và có cách cầm thìa nhất định ). Do đó, tôi rất chú trọng việc tạo điều kiện cho trẻ được chơi với đồ vật, đồ chơi và chơi với bạn bè. Ngoài ra trong quá trình chơi với đồ vật trẻ còn bắt chước thao tác của người lớn. Trò chơi thao tác vai cuốn hút trẻ và làm xuất hiện nhu cầu có bạn cùng chơi trò chơi đóng vai đơn giản (trẻ bắt chước mẹ bế em, nấu ăn, bán hàng, phân công vai chơi .). Khi tổ chức cho trẻ chơi ở giai đoạn đầu năm tôi hướng dẫn tỉ mỉ, cẩn thận, không nôn nóng, chủ động tham gia chơi với trẻ trong các trò chơi, tạo tình huống cho trẻ chơi. Ví dụ 1: Trong góc chơi nấu ăn tôi đặt câu hỏi gợi ý cho trẻ “Các bác ơi hôm nay nhà mình nấu những món ăn gì? Nấu món đó cần có thực phẩm gì? Hay thấy trẻ đi mua gà về tôi lại hỏi trẻ có gà rồi bác định làm món cá gì? Trước khi nấu bác nên làm gì?” Bằng những câu hỏi gợi mở và tạo tình huống cho trẻ tôi đã làm tăng vốn hiểu biết và làm giàu trì tưởng tượng sáng tạo của trẻ. Từ những giai đoạn sau khi tổ chức cho trẻ chơi tôi không can thiệp quá sâu vào trò chơi của trẻ để trẻ bộc lộ khả năng tự lập của mình. Khi trẻ tự chơi với các đồ chơi thì trẻ cũng lĩnh hội được những qui tắc hành vi ứng xử trong xã hội ẩn chứa trong quá trình hành động đó. Từ đó trẻ học được cách tự lập trong các thao tác hành động với đồ vật, giúp trẻ tự tin, tự lập hơn trong cuộc sống. Ví dụ 2: Trong chủ đề: “Nghề nghiệp” hoạt động vui chơi có nhiều góc chơi, trong mỗi góc lại có nhiều nhóm chơi nhỏ. Khi cô giới thiệu các góc chơi, nhiệm vụ của từng vai chơi, trẻ bắt đầu tự chọn hoạt động của mình. Có trẻ chọn góc phân vai, có trẻ chọn góc xây dựng Lần đầu tiên cháu được đóng làm chú công nhân, được đóng vai bố, mẹ, vai y tá, bác sĩ, Làm chú công nhân phải xây nhà, xây hàng rào và xây nhiều công trình khác. Khi đó trẻ sẽ nghĩ ra cách làm cho đẹp, cho nhanh. Được đóng vai bố, mẹ trẻ sẽ tự làm công việc của bố là đi làm hoặc là làm công nhân hoặc là một nông dân chăm sóc cây trong vườn hoặc đưa trẻ đi học, đi chơi công viên làm mẹ là biết bế em, cho bé ăn, quét dọn nhà cửa, nấu cơm Làm y tá, bác sĩ trẻ sẽ khám bệnh, kê đơn thuốc, tiêm thuốc Khi trẻ hoạt động cô giáo tạo tình huống để trẻ giải quyết. Đồng thời gợi ý, hướng dẫn thêm để mở rộng vốn hiểu biết cho trẻ trong lúc chơi. Ví dụ 3: Khi trẻ đóng vai làm bác sĩ, cô làm bệnh nhân giả vờ đau chỗ này, đau chỗ kia để trẻ tự giải quyết. 10
  11. Hoặc khi trẻ bán hàng, cô đóng giả người đi mua hàng, cô không đưa tiền mà cầm hàng về để trẻ tự giải quyết vấn đề. Trong quá trình trẻ chơi, tôi luôn quan sát, đồng thời có thể tham gia một cách tự nhiên chơi cùng với trẻ để gợi ý giúp trẻ bộc lộ những hiểu biết, kinh nhgiệm đã có trong quá trình chơi. Việc trẻ được tự nhận xét sau khi chơi là thành quả lao động của trẻ được tạo ra trong quá trình chơi, điều đó làm cho trẻ thấy thích thú và tự hào về sản phẩm mà trẻ đã làm ra. Kết thúc hoạt động góc tôi cho trẻ vừa cất đồ dung đồ chơi vừa đọc thơ bài “Giờ chơi” Giờ chơi Giờ chơi kết thúc Nào các bạn ơi Ta cùng cất dọn Đồ dùng đồ chơi Vào nơi quy định Với biện pháp nêu trên, trẻ lớp tôi luôn tích cực tham gia vào hoạt động, được chủ động trải nghiệm vào các vai chơi, các trò chơi, ngôn ngữ của trẻ phát triển phong phú. Trẻ biết tự thể hiện ý tưởng, tình cảm của mình, biết vui chơi đoàn kết trong nhóm bạn chơi, biết tự mình làm một số việc đơn giản và tự giác thực hiện công việc hàng ngày ở lớp. * Giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua hoạt động chơi ngoài trời: Bên cạnh hoạt động góc, hoạt động ngoài trời khiến trẻ vô cùng hứng thú, vì trẻ được ra sân hít thở không khí trong lành, được quan sát, được khám phá thế giới xung quanh, khám phá những điều mới lạ từ thiên nhiên mà trong lớp không thể tổ chức được. Hàng ngày trẻ đến lớp với cô cả ngày, học tập sinh hoạt cùng cô. Vì vậy, cô giáo phải tạo cho trẻ một môi trường thân thiện, cô vừa là cô giáo vừa là bạn của trẻ. Thông qua hoạt động đi dạo ngoài trời, ở mọi nơi mọi lúc cô luôn luôn khuyến khích động viên trẻ tích cực tự phục vụ bản thân. Để tổ chức tốt hoạt động ngoài trời tôi luôn chú ý tổ chức với ba nội dung đó là: hoạt động có chủ định, trò chơi vận động, chơi tự do. Bên cạnh đó, tôi đặc biệt quan tâm đến địa điểm hoạt động làm sao cho trẻ được thoải mái nhất, phù hợp với nội dung của chủ đề, đồ dùng, đồ chơi phong phú hấp dẫn trẻ, hình thức chơi trò chơi mới lạ. Khi tổ chức không áp đặt trẻ, không khai thác sâu như hoạt động học mà nhẹ nhàng, gần gũi, động viên, tạo sự hứng thú cho trẻ. Ví dụ: Chủ đề “Thế giới thực vật” khi kết thúc cho trẻ chơi đóng vài thành các cô, các bác lao công để cùng nhặt lá cây vệ sinh môi trường và trẻ biết vứt lá cây vào thùng rác dễ phân hủy để tái sử dụng làm phân hữu cơ bón cho cây xanh ở góc thiên nhiên, giúp trẻ biết chăm sóc và bảo vệ cây xanh, không ngắt lá, bẻ 11
  12. cành. Đồng thời cho trẻ cùng cô thu dọn đồ dùng, đồ chơi mà cô chuẩn bị cho trò chơi vận động và chơi tự do cất đúng nơi quy định. Ngoài ra tôi còn tổ chức dạo chơi trong và ngoài khuân viên trường với những địa điểm phù hợp theo từng chủ để. Việc tổ chức hoạt động ngoài trời giúp trẻ được chủ động khám phá, trải nghiệm những nội dung của bài học, trẻ lớp tôi rất thích được ra sân, các hoạt động đều đảm bảo thời gian, việc lựa chọn hoạt động cũng như trò chơi và hình thức tổ chức hấp dẫn, phù hợp. Do đó, trẻ rất hứng thú, sôi nổi, mạnh dạn, tự tin khi tham gia hoạt động, đồng thời giúp trẻ rèn sự tự giác tham gia vào các công việc hàng ngày ở trường, lớp. Biện pháp 5: Giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh, lao động Trẻ ở lứa tuổi mầm non rất thích tự làm những công việc vừa sức của mình để phục vụ cho bản thân. Hiểu được điều này, tôi luôn khuyến khích trẻ rèn luyện tính tự lập ngay từ khi còn nhỏ. Các con rất hào hứng khi được giúp cô giáo những việc đơn giản như: chuẩn bị bàn, ghế cho giờ học, giờ ăn hay tự mình sắp xếp đồ dùng ngay ngắn để vào cặp. Trong giờ ăn, các bé được tập cách bê bát ăn cơm một cách cẩn thận về chỗ ngồi của mình và sau khi ăn xong các bé biết tự mang bát đến khu vực quy định. Thời gian đầu năm tôi vừa làm mẫu kết hợp phân tích cách làm các kỹ năng cần thiết, sau đó tôi cho trẻ tự làm, chỉ nhắc nhở bằng lời đối với những trẻ nhút nhát, và tôi cho trẻ thường xuyên được thực hành các kỹ năng đó (Tự rửa tay, rửa mặt, xúc miệng nước muối, tự cởi và gấp quần áo, tự cất và lấy dép đúng nơi qui định ) Trẻ tự mặc quần áo Trẻ tự đeo giày, dép Như trong các giờ ăn, một số trẻ rất thích được giúp cô bê cơm vào bàn cho bạn, còn một số trẻ khác thấy các bạn được làm thì tỏ ra rất thích nhưng bản 12
  13. thân lại không biết làm hoặc lo sợ mình sẽ làm đổ bát. Nắm được tâm lí của trẻ tôi đã động viên các trẻ đó cùng làm với bạn. Ví dụ: Trước giờ ăn tôi thấy cháu Trâm rất thích bê cơm vào bàn cho bạn giúp cô giáo nhưng cháu lại sợ mình không chia đúng nên không giám giơ tay xin làm, thấy vậy tôi nói với cháu “Con sẽ giúp cô bê cơm vào cho các bạn chứ, cô sẽ nhờ bạn My cùng làm với con” Thấy tôi nói như vậy thì Trâm rất vui và ra làm cùng bạn. Cứ như vậy hằng ngày tôi đều hỏi trẻ ai muốn giúp cô chia thìa, hay chia cơm vào bàn cho các bạn nào? Đa số trẻ lớp tôi đều xung phong muốn làm giúp cô. Để trẻ nào cũng được làm mỗi ngày tôi nhờ một nhóm trẻ khác nhau giúp mình. Thế là cả lớp tôi trẻ nào cũng thành thạo tất cả các kỹ năng cần thiết để hình thành nhân cách sau này cho trẻ. Trẻ tự rửa tay trước và sau khi ăn Trẻ tự cầm thìa để ăn 13
  14. Đa số trẻ lên ba thường tỏ ra bướng bỉnh. Những lúc đó tôi rất thông cảm và hiểu được “bướng bỉnh” ở lứa tuổi này và không kìm hãm ý muốn tự lập của trẻ. Khi trẻ thực hiện công việc đó mất rất nhiều thời gian, không theo mong muốn của tôi, đôi khi còn bừa bãi thậm chí còn hỏng việc. Song tôi vẫn luôn tạo điều kiện để trẻ tự làm, tự trải nghiệm công việc. Ví dụ: Như lớp tôi có một số trẻ rất thích giúp cô chia thìa vào khay và đặt vào các bàn, nhưng loay hoay mãi không biết chia như thế nào, có khi còn chia thiếu, rồi làm rơi hết thìa xuống sàn. Mỗi lần như vậy tôi không tỏ ra khó chịu mà nhẹ nhàng đến bên trẻ dẫn trẻ vào từng bàn làm mẫu cách đếm bạn trong bàn và chia thìa tương ứng với số bạn trong bàn đó, sau đó tôi cho trẻ chia tiếp các bàn tiếp theo. Sau mỗi lần được tôi hướng dẫn động viên trẻ của tôi giờ làm rất thành thạo và trẻ nào cũng muốn được giúp cô. Để giúp trẻ thực hiện được các thói quen tự phục vụ một cách phấn khởi và nhớ lâu tôi đã kết hợp lồng ghép những bài thơ, bài hát có ý nghĩa giáo dục giữ gìn vệ sinh để trẻ dễ dàng thực hiện các kỹ năng đó. Ví dụ: Trước giờ ăn tôi cho trẻ hát đọc bài “Tập rửa tay” Con vâng lời cô dạy, Trước khi ăn phải rửa tay, Xoay xoay xoay cổ tay, Xoa xoa mu bàn tay, Rồi đến kẽ ngón tay, Con lau bàn, tay xinh Con lau bàn tay sạch, Xinh xinh thật là xinh Hay bài thơ: Rửa tay. Miếng xà phòng nho nhỏ, Em xát lên bàn tay, Nước máy đây trong vắt, Em rửa đôi bàn tay. Khăn mặt đây thơm phức. Em lau khô bàn tay. Đôi bàn tay bé bé. Nay rửa sạch xinh xinh. Tất cả lớp chúng mình, Cùng giơ tay vỗ vỗ Bài thơ: Rửa mặt. Bàn tay nhỏ nhắn, Bé cầm chiếc khăn, Rửa một bên mặt, 14
  15. Rồi đến bên kia, Gấp chiếc khăn lại, Lau đến mũi miệng, Khuôn mặt của bé, Xinh xinh lạ kỳ, Là nhờ bé đấy Được tự tay làm những công việc mình thích tôi thấy trẻ rất phấn khởi, có thể lần đầu trẻ làm rất lâu mới xong, nhưng các lần sau đó tôi thấy các thao tác của trẻ thành thạo rất nhiều, trẻ mạnh dạn tự tin hơn. Qua đó những kiến thức tự trải nghiệm của trẻ sẽ được mở rộng và khắc sâu hơn rất nhiều. Với cách làm trên lớp tôi luôn được Ban giám hiệu đánh giá cao về chất lượng cách tổ chức rèn nề nếp giờ ăn, giờ ngủ của trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm. * Giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua hoạt động lao động: Như Bác Hồ đã nói: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ tuỳ theo sức của mình”. Vì vậy tôi luôn khuyến khích động viên trẻ tự hoạt động, tự phục vụ bản thân mình từ những công việc nhỏ nhất. Và từ đó hình thành cho trẻ tính tự lập. Ví dụ: Cô cùng trẻ nhổ cỏ, chăm sóc cây cảnh, nhặt rác sân trường, lau rửa, sắp xếp giá đồ chơi, gấp chăn, chiếu, tự rửa mặt phơi khăn Trong mục tiêu của chương trình Giáo dục mầm non, trẻ đóng vai trò là chủ thể, trẻ tự tìm tòi, khám phá tạo ra các sản phẩm để phục vụ hoạt động học và chơi, từ đó trẻ trải nghiệm và hình thành được kỹ năng trong từng hoạt động. Muốn đạt mục tiêu trên thì đòi hỏi trẻ phải có khả năng tự lập tốt, để rèn luyện khả năng tự lập cho trẻ trong hoạt động học tập ngoài ra tôi còn chú trọng rèn trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, kỹ năng vệ sinh môi trường thông qua hai buổi tổ chức hoạt động trong tháng. Hàng ngày tôi thường chú trọng dạy trẻ những hành vi văn hóa trong ăn uống qua đó rèn kỹ năng lao động tự phục vụ và kỹ năng giúp đỡ người khác như: Biết rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, biết mời trước khi ăn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, ăn hết suất hoặc biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, không làm ảnh hưởng đến người khác. Khi ra sân trong giờ hoạt động lao động phải biết nhặt rác bỏ vào thùng, tưới cây, nhặt cỏ, lau lá cây. Khi thực hiện các hoạt động này tôi cùng làm với trẻ và tôi thường giải thích cho trẻ hiểu ý nghĩa tác dụng của từng hoạt động. Từ đó trẻ sẽ hiểu và học tập theo cô, dần dần hoạt động có ý thức đó sẽ trở thành kỹ năng giúp trẻ thực hiện hoạt động một cách tự nguyện mà không có cảm giác ép buộc sai khiến. 15
  16. Trẻ vứt rác đúng nơi quy định Giao nhiệm vụ trực nhật hàng ngày cho từng cá nhân, hay từng nhóm. Ví dụ: Phân công mỗi tổ trực một ngày thực hiện các hoạt động trong ngày như: lau chùi, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi trong lớp, kiểm tra vệ sinh cá nhân (rửa mặt, rửa tay), lao động nhặt lá rụng. Các tổ còn lại có nhiệm vụ theo dõi, nhận xét. Hàng ngày trong giờ hoạt động nêu gương tổ trực được lớp nhắc nhở nhiệm vụ, cuối ngày cho trẻ tự nhận xét, cô đánh giá, kết luận và khen các tập thể tổ và cá nhân thực hiện tốt, nhẹ nhàng nhắc nhở trẻ thực hiện chưa tốt. Biện pháp 6: Giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua các hoạt động nêu gương. Trong các hình thức tích hợp giáo dục nói chung thì hình thức giáo dục tích hợp trong các hoạt động nêu gương là cực kỳ quan trọng. Có thể nói đây là một hình thức giáo dục đạt hiệu quả rất cao vì như chúng ta đã biết tâm lý của trẻ ở lứa tuổi mầm non thường rất thích thể hiện mình, thích được cô giáo và người lớn khen ngợi trước những việc làm tốt của mình và được khen ngợi trước các bạn mặc dù việc làm đó rất nhỏ bé. Nên có thể nói việc nêu gương cắm cờ và bình bé ngoan cho trẻ hàng ngày, hàng tuần, tuyên dương trẻ trước cả lớp là một việc làm có ý nghĩa rất lớn và rất quan trọng đối với việc hình thành các nề nếp thói quen tốt cho trẻ. Việc làm này trước hết sẽ giúp cho trẻ cảm thấy đuợc phấn khởi, tự hào và sẽ cố gắng tiếp tục phát huy những gì mình đã làm được đồng thời qua đó trẻ trở thành tấm gương cho các bạn khác trong lớp cùng cố gắng phấn đấu học tập và noi theo. Chính vì vậy hàng ngày tôi thường đưa ra cho trẻ các tiêu chuẩn phấn đấu để được tặng cờ bé ngoan. 16
  17. Ví dụ: Vào đầu các buổi sáng tôi thường dặn trẻ: Các con hãy phấn đấu thật ngoan. Nếu bạn nào trong ngày thể hiện mình là những bé ngoan vâng lời cô, biết tự làm các việc nhỏ phục vụ bản thân và giúp đỡ các bạn thì buổi chiều sẽ được cô giáo tặng cho một lá cờ bé ngoan và cắm vào ống cờ của mình. Đến buổi chiều khi đến giờ bình cờ bé ngoan tôi nhắc lại các tiêu chuẩn để được tặng cờ và cho trẻ tự nhận xét về mình về bạn những việc tốt và những việc làm chưa tốt trong ngày. Cụ thể: Bé phải đi học đều, hăng hái phát biểu ý kiến, tự giác thực hiện các công việc cô giáo giao cho. Bé ngoan là bé phải ngoan ngoãn, lễ phép biết vâng lời cô giáo, biết chào cô giáo, chào khách đến lớp, biết cất đồ dùng cá nhân và làm một số việc phục vụ bản thân, biết chơi đoàn kết và không tranh giành đồ chơi của bạn, có ý thức giữ gìn đồ dùng đồ chơi cẩn thận. Sau đó cô nhận xét lại tuyên dương khen ngợi, khuyến khích những trẻ làm tốt và động viên các cháu bằng các hình thức như: Cả lớp tặng cho bạn một tràng pháo tay thật to nào hoặc bạn rất xứng đáng được cô giáo tặng cho một lá cờ bé ngoan để cắm vào ống cờ của mình. Còn những cháu chưa được bình cờ bé ngoan cô nhẹ nhàng chỉ ra lỗi của cháu và động viên cháu ngày mai con sẽ ngoan hơn và con sẽ được cắm cờ như các bạn qua đó trẻ sẽ phấn đấu và được cô giáo khen như bạn. Trong mọi việc làm của trẻ tôi kịp thời khen ngợi trẻ “ Con giỏi lắm, con đã lớn thật rồi ” hay “con rất ngoan đấy, cô yêu con lắm” từ đây tạo cho trẻ một ý nghĩ mình đã lớn đã làm được nhiều việc và mình là người có ích. Từ đó trẻ sẽ hoạt động tích cực hơn, hứng thú hơn. Biện pháp 7: Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh cùng giáo dục tính tự lập cho trẻ. Gia đình là cái nôi đầu tiên để trẻ lớn lên và hình thành nhân cách do đó những thói quen từ gia đình ảnh hưởng đến trẻ sâu sắc, để đạt hiệu quả rèn những thói quen cho trẻ thì nhà trường và gia đình cần phối kết hợp chặt chẽ với nhau. Chính vì vậy thông qua việc họp phụ huynh, hay việc đón trả trẻ tôi luôn tuyên truyền với phụ huynh hiểu thế nào là cho trẻ tự lập, tự làm những việc trong khả năng của trẻ, bố mẹ chỉ là người làm mẫu và hướng dẫn trẻ làm không nên làm giúp trẻ, hay khi trẻ đã biết làm rồi thì người lớn nên khuyên khích động viên trẻ, cho trẻ rèn luyện tính tự lập đó nhiều lần để trở thành các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống của trẻ. Như chúng ta đã biết thời gian trẻ đến trường nhiều hơn rất nhiều so với thời gian ở nhà. Những bài học trẻ được học ở trường giúp trẻ phát triển đúng yêu cầu ở độ tuổi, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần và nhận thức, giúp trẻ tự tin, mạnh dạn, tích cực và chủ động khi tham gia các hoạt động cùng cô và bạn. Tuy nhiên để công tác chăm sóc giáo dục trẻ ở trường đạt kết quả tốt nhất, tránh trường hợp cô giáo ở lớp thì giáo dục trẻ tính tự lập, còn về nhà cha 17
  18. mẹ lại luôn làm giúp trẻ mọi việc. Chính vì không muốn tình trạng đó xảy ra nên tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh trong những giờ đón trả trẻ, trong các buổi họp phụ huynh về mọi vấn đề có liên quan đến trẻ ở trường và đặc biệt là giáo dục tính tự lập cho trẻ. Một trong những hành động thiết thực tôi thấy là có thể trao đổi thông tin qua tin nhắn điện thoại, hòm thư, hay qua sổ bé ngoan từ đó trao đổi trực tiếp với phụ huynh. Và tôi đã nhận được sự phản hồi tích cực của phụ huynh từ đó tôi đã thêm niềm tin vào những biện pháp mà mình đã lựa chọn để dạy trẻ tính tự lập. Ví dụ: Tôi thấy một số trẻ lớp tôi rất được bố mẹ nuông chiều không bao giờ tự làm một việc gì, đến lớp thì đợi cô và bạn làm giúp đỡ như cháu Duy, Diệp, Gia Bảo. Tôi đã trò chuyện với phụ huynh để họ nắm bắt được tình hình của con mình và tôi tuyên truyền cho họ các phương pháp về giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ nhỏ để phụ huynh có thể áp dụng tại gia đình. Tôi có thể gợi ý cho họ về cách giáo dục trẻ tự lập “Anh chị cứ để trẻ tự cất ba lô, hay các bé tự đi dép được đấy chị ạ, chị cứ để bé tự lấy và tự đi thử xem”. Nhờ có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên với cha mẹ trẻ mà tôi thấy trẻ của lớp tôi luôn có tính tự lập cao, trẻ mạnh dạn tự tin, các kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giữ gìn vệ sinh, kỹ năng giúp đỡ người khác luôn thành thạo và rất vui vẻ nhiệt tình khi được tự lập. 7.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến: Đề tài này phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ và tình hình thực tế của nhà trường, mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm non. 8. Những thông tin cần được bảo mật (không) 9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến Việc giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm non thực sự không phải là vấn đề mới nhưng nó đòi hỏi phải có những biện pháp khả quan, kết hợp sự kiên trì, khéo léo của mỗi giáo viên thì sẽ thành công và đạt hiệu quả cao. Giáo viên phải có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn vững vàng và hơn thế nữa đó chính là lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ. 10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả. 10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: Sau khi đã áp dụng các biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở lớp tôi cùng với tấm lòng nhiệt huyết yêu nghề mến trẻ và nhận được sự giúp 18
  19. đỡ nhiệt tình của nhà trường, đồng nghiệp tôi thấy có những sự tiến bộ rõ rệt như sau: * Về phía giáo viên: Bản thân tôi nắm vững hơn về phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động rèn tính tự lập cho trẻ nói riêng. Tôi đã có thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm để chia sẻ với đồng nghiệp về tổ chức tốt hoạt động rèn tính tự lập cho trẻ. Luôn tích cực, sáng tạo, tổ chức hoạt động một cách linh hoạt, mới mẻ. Các hoạt động tổ chức nhẹ nhàng không có tiết học nào giống tiết học nào, luôn đổi mới hình thức vào bài, qua các buổi thăm lớp, dự giờ và đặc biệt qua các hội thi giáo viên dạy giỏi tôi được Ban giám hiệu khen ngợi và đánh giá cao. * Về phía phụ huynh: Cha mẹ luôn coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ ở nhà trường. Từng bước có thói quen phối hợp chặt chẽ với cô giáo trong việc dạy trẻ các kỹ năng sống, trao đổi với giáo viên bằng nhiều hình thức. Quan sát khi trẻ đến trường, ít còn hình ảnh mẹ đi sau xách cặp cho con, mà trẻ tự đeo cặp, tự để cặp, dép, đồ dùng ngay ngắn lên ô để cặp của mình, biết tự chào cô * Về phía trẻ: Tự giác thực hiện các công việc thường ngày ở lớp: Bê ghế, trải khăn bàn, rửa tay trước khi ăn, rửa tay khi bị bẩn, rửa mặt, lau mặt, lau bàn ăn, sắp xếp bàn ghế sau khi ăn xong, lấy và cất gối chiếu đúng nơi qui định, lao động chăm sóc vườn hoa cây cảnh, nhặt lá rụng, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi, vệ sinh cá nhân trước khi ra về. Cảm xúc của trẻ phát triển tốt, yêu thiên nhiên, có kỹ năng hoạt động với đồ vật để tạo ra những đồ dùng đồ chơi mà mình yêu thích. Vui vẻ, hồn nhiên trong các hoạt động, biết giúp đỡ bạn Bảng so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Đánh giá kỹ năng tự lập của trẻ Trẻ thích nghi Trẻ biết làm Trẻ tự giác với các hoạt những việc đơn thực hiện các Thời gian Sĩ số động ở trường, giản tự phục vụ công việc lớp bản thân thường ngày ở lớp Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Tháng 9/2020 Chưa áp dụng 28 12 43 14 50 10 36 sáng kiến Tháng 5/2021 1 năm áp dụng 28 28 100 28 100 24 86 sáng kiến 19
  20. *Nhận xét: Qua bảng khảo sát cho chúng ta thấy được: Tháng 9 Năm học 2020 - 2021 khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm thì kết quả đánh giá kỹ năng tự lập của trẻ đạt thấp. Với 28 học sinh thì số trẻ thích nghi với các hoạt động ở trường, lớp đạt 12/28 cháu, tỷ lệ 43%; Trẻ biết làm những việc đơn giản tự phục vụ bản thân đạt 14/28 cháu, tỷ lệ 50%; Trẻ tự giác thực hiện các công việc thường ngày ở lớp đạt 10/28 cháu, tỷ lệ 36%; Điều đó thấy rằng trẻ chưa thích nghi với các hoạt động ở trường, lớp. Trẻ còn lúng túng khi làm những việc đơn giản tự phục vụ bản thân. Việc tự giác thực hiện các công việc thường ngày ở lớp của trẻ chưa tốt, các cháu chưa mạnh dạn, tự tin, tham gia các hoạt động chưa tích cực. Tháng 5/2021, sau 9 tháng thực hiện áp dụng sáng kiến, kết quả tăng cao. Trẻ đã có sự chuyển biến rõ rệt: Số trẻ thích nghi với các hoạt động ở trường, lớp 28/28 cháu, đạt 100%; Trẻ biết làm những việc đơn giản tự phục vụ bản thân 28/28 cháu, đạt 100%; Trẻ tự giác thực hiện các công việc thường ngày ở lớp 24/28 cháu, đạt 86%. Với kết quả trên cho thấy việc áp dụng các biện pháp trong bản sáng kiến kinh nghiệm mà chất lượng giáo dục trẻ mẫu giáo 3 tuổi của nhà trường nói chung, của lớp nói riêng có nhiều tiến bộ, các cháu nhanh nhẹn, tích cực, hứng thú tham gia vào các hoạt động, biết tự làm những việc đơn giản và tự lập hơn trong cuộc sống hàng ngày. * Sau một năm thực hiện đề tài này tôi đã rút ra một số kinh nghiệm như sau: Một là: Môi trường để tổ chức các hoạt động trong lớp và ngoài trời cần bố trí phù hợp, thuận lợi cho cô và trẻ hoạt động, dựa trên nguyên tắc giúp trẻ học qua chơi. Có đủ trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi. Các góc chơi được trang trí đảm bảo tính thẩm mĩ, mang tính mở và thay đổi phù hợp với chủ đề. Hai là: Cô giáo phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, mẫu mực, chịu khó, kiên trì tìm tòi học hỏi, luôn có biện pháp sáng tạo trong giảng dạy và chăm sóc giáo dục nhằm khuyến khích sự tích cực ở trẻ. Khai thác tiềm năng sáng tạo ở mỗi trẻ. Luôn tạo cho trẻ cơ hội để trẻ được thể hiện mình, được bộc lộ bản thân mình trước mọi người. Biết lựa chọn các nội dung phù hợp để giáo dục tính tự lập cho trẻ trong các hoạt động. Biết lồng ghép nhẹ nhàng nội dung rèn tính tự lập cho trẻ vào các hoạt động mọi lúc mọi nơi. Dành thời gian chú ý nhiều hơn đến những cháu cá biệt để có biện pháp giáo dục phù hợp, phải động viên khen thưởng sửa sai kịp thời nhằm kích thích những việc làm tốt, và hạn chế những hành vi xấu của trẻ. Ba là: Tăng cường cho trẻ tham gia vào các hoạt động trải nghiệm. Tận 20