SKKN Một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ

docx 22 trang tamdan 07/10/2025 1440
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_giup_giao_vien_mam_non_ung_dung_cong_n.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ

  1. PHÒNG GD & ĐT HUYỆN YÊN LẠC TRƯỜNG MẦM NON TAM HỒNG BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: “Một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ” Tác giả sáng kiến: Tạ Thị Minh Nguyệt * Mã sáng kiến: Yên Lạc, năm 2023 1
  2. BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu Đời sống con người đi lên kéo theo sự phát triển của một nền công nghệ hiện đại tiên tiến, chúng tác động mạnh mẽ vào sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội. Và công nghệ thông tin chính là hiện thân của nền công nghệ hiện đại, tiên tiến ấy. Nó góp phần vô cùng quan trọng tới chất lượng của mọi việc, mọi lĩnh vực trong cuộc sống, xã hội. Đặc biệt là ngành giáo dục nói chung và bậc học mầm non nói riêng. Trong hệ thống giáo dục quốc dân có nhiều cấp học khác nhau nhưng trong đó ngành giáo dục mầm non lại được chọn là cấp học đầu tiên thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. Hiện nay các trường mầm non đã tăng cường đầu tư và trang bị hệ thống phần mềm, thiết bị công nghệ thông tin: máy tính, máy chiếu, ti vi tạo điều kiện cho giáo viên mầm non có thể ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ. Qua đó giáo viên mầm non hứng thú hơn với công việc giảng dạy, khả năng làm việc hiệu quả hơn. Đồng thời công nghệ thông tin trong giáo dục còn giúp giáo viên mầm non trở nên nhanh nhẹn, năng động, sáng tạo phù hợp với sự phát triển của thời đại. Công nghệ thông tin mở ra một trang mới cho hành trình giáo dục trẻ. Nắm bắt tâm lí của trẻ thích tìm tòi, khám phá những điều mới lạ của các sự vật, hiện tượng, tự nhiên xung quanh nhưng không phải cái gì trẻ cũng có thể nhìn trực tiếp và nhận thức hết được. Giáo viên đã ứng dụng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và mạng Internet là những công cụ vô cùng hiệu quả trong việc khai thác những hình ảnh, video, âm thanh, về những sự vật, hiện tượng, tự nhiên, một cách chân thực, sinh động, sắc nét nhất tạo nên sự hứng thú, say mê học tập ở trẻ. Thực tế cho thấy đội ngũ giáo viên trong nhà trường chưa trang bị cho mình vốn kiến thức và kỹ năng về tin học vững chắc mà nó vẫn nằm ở mức độ cơ bản, đơn giản, việc cập nhật kiến thức tin học cho giáo viên chưa được kịp thời. Bên cạnh đó vẫn có một số giáo viên còn e ngại, thụ động trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy, khiến bài dạy trở nên đơn điệu, nhàm chán. Dẫn đến kết quả giờ học chưa cao. Chính vì thấy được những lợi ích và ý nghĩa thiết thực của việc ứng dụng công nghệ thông tin, để góp phần nâng cao hiệu quả giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ, tôi đã nghiên cứu và áp dụng “Một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin 2
  3. trong hoạt động giáo dục trẻ” nhằm giải quyết những khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy và học theo phương pháp đổi mới trong trường mầm non. 2. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ”. 3. Tác giả sáng kiến. - Họ và tên: Tạ Thị Minh Nguyệt - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường MN Tam Hồng – Huyện Yên Lạc – Tỉnh Vĩnh Phúc. - Số điện thoại: 0399 879 912 E_mail: [email protected] 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tạ Thị Minh Nguyệt - Trường MN Tam Hồng - Huyện Yên Lạc – Tỉnh Vĩnh Phúc 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dựa vào thực trạng giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ để từ đó đưa ra những biện pháp tối ưu, khả thi góp phần nâng cao việc giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ. 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày 06 tháng 09 năm 2022 đến 28 tháng 02 năm 2023. 7. Bản chất của sáng kiến 7.1. Về nội dung của sáng kiến: 7.1.1. Cơ sở lý luận. Dựa trên nội dung của các chỉ thị đã ban hành: Chỉ thị 29/CT – Bộ GD&ĐT về việc “tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT ngành giáo dục và đào tạo giai đoạn 2001 – 2005”; Chỉ thị số 55/2008/CT – BGD&ĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012” hay đẩy mạnh ứng dụng công dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học thì bậc học mầm non đã bắt đầu được tiếp cận với công nghệ thông tin trong giảng dạy. Công nghệ thông tin trong hoạt động giảng dạy mang lại hiệu quả cao và góp phần trong việc phát triển tư duy, kỹ năng sống và nhiều mặt khác ở trẻ mầm non. Đó là những bài giảng điện tử và giáo án điện tử. Bài giảng được thể hiện bởi những phần mềm hỗ trợ hữu ích như Powerpoint, fash, kết hợp các thiết bị công nghệ thông tin như máy tính, máy chiếu, ti vi mang đến cho trẻ những hình ảnh, video sống động, hấp dẫn giúp trẻ có cái nhìn trực quan, sinh động hơn về các hiện tượng tự nhiên, xã hội 3
  4. Nguồn nhân lực chính để ứng dụng công nghệ thông tin, tạo nên thành công trong hoạt động giáo dục trẻ chính là giáo viên mầm non. Nhờ tính năng hữu dụng của công nghệ thông tin và mạng Internet mà giáo viên có thể khai thác, tìm kiếm nguồn tài liệu vô cùng phong phú ở mọi lúc, mọi nơi. Giúp giáo viên tiết kiệm thời gian xây dựng bài giảng của mình một cách nhanh chóng và không phải mất kinh phí mua sắm nguyên vật liệu để tạo ra những đối tượng, sự vật cho trẻ quan sát. Vậy giúp giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin là quá trình tạo những cơ hội mới để nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trên cơ sở những kinh nghiệm rút ra từ những bài học thực tế góp phần phát triển hiệu quả công tác giáo dục. 7.1.2. Cơ sở thực tiễn * Thuận lợi : Luôn nhận được sự quan tâm của Phòng GD & ĐT Huyện cùng BGH nhà trường, tạo điều kiện mua sắm trang thiết bị hiện đại hệ thống máy tính, máy chiếu, loa, lắp đặt hệ thống mạng Internet giúp giáo viên có thể tiếp cận nhanh với công nghệ thông tin, thuận tiện cho quá trình giảng dạy trẻ. Giáo viên trong trường có trình độ đạt chuẩn về tin học với chứng chỉ tin học ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản trong tay, đảm bảo cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Nhà trường có Cán bộ phụ trách riêng về mảng công nghệ thông tin tạo thuận lợi cho việc học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Bản thân tôi có trình độ Đại học và được tham gia các lớp bồi dưỡng của phòng giáo dục và nhà trường tổ chức nên tôi cũng học hỏi, trau dồi thêm nhiều kiến thức bổ ích về công nghệ thông tin. Tôi luôn có tinh thần cầu tiến, nghiêm túc học hỏi, tìm tòi về công nghệ thông tin, góp phần nâng cao năng lực, chuyên môn, kỹ năng về tin học của bản thân. Đời sống phát triển, hầu hết phụ huynh sử dụng điện thoại thông minh với chức năng gần như một chiếc máy tính nhỏ gọn hoặc có máy tính sử dụng trong công việc để tiếp cận với công nghệ thông tin nên trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ có sự phối hợp qua lại giữa giáo viên và phụ huynh rất tốt. Trẻ được làm quen với các thiết bị hiện đại sớm: điện thoại, máy tính thông qua các chương trình hay trò chơi trong phần mềm Kidsmart, Kispix, Eduplay. Qua đó trẻ dễ dàng nhận biết cũng như thao tác dễ dàng với các thiết bị công nghệ thông tin khác. * Khó khăn: - Về giáo viên: 4
  5. Các phần mềm hỗ trợ cho việc giảng dạy đều là Tiếng Anh. Hầu hết giáo viên có vốn Tiếng Anh nghèo nàn nên việc dịch thuật và tìm kiếm để chọn lựa các phần mềm cần thiết còn gặp nhiều khó khăn. Do bản thân không được đào tạo chính quy về ngành tin học nên khi làm quen với công nghệ thông tin, đặc biệt là những phần mềm mới trong việc xây dựng giáo án còn gặp nhiều khó khăn. Các thiết bị trình chiếu ứng dụng các phần mềm sử dụng cho tiết dạy thì thay đổi theo thời gian và sự sáng tạo của con người với một ưu thế vượt bậc, hiện đại hơn. Bản thân tôi khó tránh khỏi sự ngỡ ngàng, lúng túng. Nhà trường tuy có Cán bộ phụ trách về công nghệ thông tin nhưng trong quá trình sử dụng phương tiện công nghệ thông tin đôi khi vẫn gặp phải một số tình huống ngoài ý muốn như: mất mạng, lỗi máy tính, máy chiếu, thì Cán bộ phụ trách công nghệ thông tin lại không có kiến thức về sửa chữa những lỗi đó nên không xử lí, giải quyết kịp thời được vấn đề làm ảnh hưởng tới quá trình giảng dạy của giáo viên, cũng như sự tiếp thu bài của trẻ. Nhà trường chưa có phòng tin học riêng biệt cũng phần nào ảnh hưởng tới việc giáo dục trẻ. 100% giáo viên có máy tính xách tay riêng nhưng quá trình sử dụng mới chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản là soạn giáo án trên phần mềm Microsoft Word, trình chiếu đơn giản trên Powerpoint. - Về trẻ: Đặc điểm tâm lí của trẻ là thích cái mới lạ, đẹp đẽ, hấp dẫn. Những điều này với phương pháp dạy truyền thống chưa thể đáp ứng được những nhu cầu thị hiếu đó của trẻ. Điều đó được thể hiện qua bảng khảo sát trẻ: Nội dung khảo sát Tỉ lệ trẻ đạt trong các hoạt động khi chưa có ứng dụng công nghệ thông tin Tổng số % Trẻ hứng thú tham gia các hoạt động 15/25 60 Trẻ nắm được kiến thức các hoạt 14/25 56 động Trẻ có kỹ năng trong các hoạt động 12/25 48 Nhận xét chung: - Trẻ hứng thú tham gia các hoạt động đạt: 60% - Trẻ nắm được kiến thức các hoạt động đạt: 56% - Trẻ có kỹ năng trong các hoạt động đạt: 48% 5
  6. Qua kết quả trên ta thấy các nội dung khảo sát trẻ trẻ khi giáo viên chưa ứng dụng công nghệ thông tin như: Trẻ hứng thú tham gia các hoạt động; Trẻ nắm được kiến thức các hoạt động; Trẻ có kỹ năng trong các hoạt động còn chưa cao, chưa hiệu quả. Điều đó nói lên rằng chất lượng học của trẻ chưa cao. - Về phụ huynh: Đa số cha mẹ do bận việc muốn con ngồi một chỗ, không nghịch ngợm, phá phách nên đã cho con xem điện thoại, máy tính với những chương trình mà con yêu thích. Nhiều trường hợp máy tính, điện thoại cũng mang lại lợi ích cho trẻ nhưng khi trẻ xem nhiều, xem trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức, tính cách của trẻ. Từ những thực trạng trên, với lòng yêu nghề, mến trẻ và tâm huyết với nghề tôi mong muốn phát triển, nâng cao việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong hoạt động giáo dục trẻ của bản thân để mang đến cho trẻ nhiều bài học hay, giúp trẻ hứng thú với các hoạt động, nắm được kiến thức cũng như có các kỹ năng tốt để góp phần cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Chính vì điều đó, tôi đã đưa ra và áp dụng: “Một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ”. 7.1.3. Một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ. Biện pháp 1: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông tin Để có thể thực hiện thành công bất cứ công việc gì chúng ta đều cần phải có đầy đủ cơ sở vật chất cũng như công cụ lao động tương ứng của công việc đó. Cũng như trong hoạt động giáo dục trẻ mầm non ngày nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin đang trở nên phổ biến và công nghệ thông tin được coi là phương tiện, công cụ hỗ trợ đắc lực để tạo nên thành công của quá trình giáo dục. Các thiết bị công nghệ thông tin ở đây là: máy tính, máy chiếu, loa, mạng internet, ti vi, Có thể nói những phương tiện công nghệ thông tin này góp phần không nhỏ vào những kết quả của quá trình giáo dục trẻ mà tôi đạt được. Công nghệ thông tin giúp tôi tìm kiếm, lựa chọn những hình ảnh, âm thanh, phim ảnh, sinh động, hấp dẫn, chân thực minh họa cho những bài dạy của mình nhằm tạo ra sự hứng thú, khơi dậy tính tò mò, khám phá ở trẻ. Bên cạnh máy tính được trang bị ở lớp. Tôi cũng đã có cho mình một máy tính xách tay riêng cùng với hệ thống mạng internet nên thuận tiện cho việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng giáo án điện tử phục vụ cho công việc giảng dạy khi ở nhà. Bên cạnh việc chuẩn bị các thiết bị công nghệ thông tin giúp giáo viên ứng dụng vào hoạt động giáo dục trẻ thì việc thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng các 6
  7. thiết bị cũng rất quan trọng. Nó đảm bảo cho các thiết bị công nghệ thông tin luôn ở trạng thái ổn định, sử dụng bền bỉ, lâu dài tránh làm ảnh hưởng tới quá trình giáo dục trẻ. (Thiết bị CNTT được trang bị đầy đủ) Biện pháp 2: Tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học Bản thân tôi đã có chứng chỉ tin học ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản, đã có thể tự mình soạn thảo kế hoạch cũng như giáo án trên máy. Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng với kiến thức của bản thân về tin học như vậy vẫn chưa đủ, chưa đáp ứng được với những chương trình ứng dụng hiện đại như ngày nay. Như câu nói của Lenin “Học, học nữa, học mãi” thì việc học và ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ dừng lại ở học ở thầy, sách vở mà nó còn phải học về lâu về dài. Ngoài ra chúng ta cần phải kiên trì tìm tòi, học hỏi ở bạn bè, tự học trên mạng internet – nguồn tài nguyên quý giá mà chúng ta không bao giờ khai thác hết, chỉ có như thế trình độ ứng dụng công nghệ thông tin mới ngày một phát triển. Và để đáp ứng được nhu cầu, mục tiêu giáo dục đề ra theo hướng đổi mới và ứng dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả thì phải trang bị cho mình hệ thống kiến thức phong phú, vững chắc. Trong khi công nghệ thông tin ngày càng cải tiến và phát triển, nhiều phần mềm mới với chức năng hiện đại hơn, ưu thế hơn ra đời. Và để việc tiếp cận, làm quen và thấu hiểu với các phần mềm này thì tôi đã dành nhiều thời gian đọc và tìm hiểu các tài liệu về công nghệ thông tin, về các phần mềm và tìm hiểu nhiều nguồn tư liệu trên các kênh giáo dục, trên mạng internet. 7
  8. Bên cạnh đó, tôi còn học hỏi ở đồng nghiệp về những gì mà mình chưa biết. Với phương châm “Không biết thì hỏi, muốn giỏi phải học”, tôi không bao giờ giấu dốt hay giấu giếm sự thiếu hiểu biết của mình mà tôi luôn sẵn sàng chia sẻ, luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp để mọi người chia sẻ những hiểu biết, kinh nghiệm mà họ có được. (Nghiên cứu, học tập cùng đồng nghiệp) Biện pháp 3: Ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động hàng ngày của trẻ. Mỗi hoạt động của trẻ đều có những mục đích, tính chất riêng của nó. Và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mỗi hoạt động là khác nhau, có hoạt động cần ứng dụng nhiều với mức độ khó hay hoạt động ứng dụng ít mà đơn giản. Do vậy tôi luôn chú ý tới từng hoạt động của trẻ để có thể ứng dụng công nghệ thông tin một cách triệt để, hiệu quả. * Giờ đón trẻ: Tôi tải hoặc mở trực tiếp trên máy tính có loa, kết nối mạng internet trình chiếu cho trẻ xem, nghe những bài hát, video ca nhạc hay hình ảnh về chủ đề trẻ đang học để giúp trẻ làm quen. Ví dụ: Chủ đề “Phương tiện và một số luật lệ giao thông”, đề tài “Phương tiện giao thông đường bộ”: tôi cho trẻ xem video về những phương tiện giao 8
  9. thông đường bộ như: ô tô, xe máy, xe đạp, xe cứu hỏa, qua đó trẻ biết tên gọi, hình dạng, đặc điểm của một số phương tiện một cách chân thực, sinh động. * Thể dục sáng: Tùy vào từng chủ đề tôi đã lựa chọn những bài hát có lối ngắt nhịp phù hợp, dễ dàng kết hợp động tác để cho trẻ tập theo nhạc. Bài hát được tải về và lưu trong đĩa VCD để có thể sử dụng lâu dài. Khi tới giờ thể dục ở chủ đề nào thì tôi mở trên đầu đĩa bài hát tương ứng với bài tập ở chủ đề đó. Ví dụ: Chủ đề “Bản thân”, trẻ tập kết hợp cùng bài “Nắng sớm” * Hoạt động học: + Môi trường xung quanh: Ví dụ: Chủ đề “Thế giới động vật” - Đề tài “Những động vật sống trong rừng”: khi giới thiệu về con khỉ với tập tính là leo trèo, nhảy từ cành này sang cành kia hay con hổ là động vật ăn thịt, hổ săn mồi, Nếu như trước kia chưa ứng dụng công nghệ thông tin thì tôi chỉ giới thiệu cho trẻ biết qua lời nói hoặc qua tranh ảnh thì giờ đây khi đã biết ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giáo dục trẻ tôi đã biết vào trang web: Google.com.vn chọn những hình ảnh động, video rõ nét nhất phù hợp với nội dung triển khai trình chiếu cho trẻ xem, hình ảnh con khỉ leo trèo, nhảy từ cành nọ sang cành kia, con hổ chạy nhanh đuổi bắt vồ lấy con mồi, nhìn rất rõ. Trẻ không chỉ được xem những hình ảnh sinh động, chân thực mà trẻ còn được nghe tiếng kêu của chúng, trẻ rất hứng thú khi được quan sát và trao đổi cùng cô, cùng bạn. Và đặc biệt trẻ có ấn tượng sâu sắc với đối tượng mà trẻ được quan sát. (Trẻ xem video Hổ săn mồi) 9
  10. Trong quá trình dạy trẻ có nhiều hoạt động phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên cần có thời gian để quan sát như “Sự nảy mầm của hạt; Vòng tuần hoàn của nước; Vòng đời của bướm .”. Những hoạt động này không thể thực hiện ngay, để khái quát cả quá trình tôi thực hiện thiết kế các video cho trẻ quan sát để trẻ hiểu khái quát hơn và khi cùng cô tiến hành trải nghiệm trẻ sẽ dễ dàng thực hiện và hiểu rõ hơn về hoạt động mà mình đang thực hiện. Để thực hiện, tôi ưu tiên lựa chọn một số phần mềm tạo video như: viva video, Cap Cut, tiktok và phần mềm Proshow Gold. Đây là các phần mềm đều dễ sử dụng, có thể sử dụng trực tiếp trên điện thoại và hoàn toàn không mất phí. Ví dụ : Hoạt động: Cho trẻ khám phá về “Sự nảy mầm của hạt”. Nếu để cho trẻ được quan sát thực tế từ quá trình gieo hạt và qua các giai đoạn: nảy mầm, ra lá, cây trưởng thành thì sẽ mất rất nhiều thời gian. Và khi không có nhiều thời gian cho trẻ quan sát như vậy thì tôi đã tạo video về sự nảy mầm của hạt trên phần mềm capcut hoặc có thể tải trực tiếp video “Sự nảy mầm của hạt” có sẵn trên trang mạng Youtube. Khi quan sát trên video trẻ sẽ thấy được sự biến đổi của hạt với hình ảnh, màu sắc thật nhất, giúp trẻ dễ dàng nhận biết được các đặc điểm và sự biến đổi của hạt khi gieo xuống đất mà mình đang tìm hiểu. (Trẻ quan sát video sự nảy mầm của hạt) + Làm quen với tác phẩm văn học: Nếu như trước đây khi chưa có ứng dụng công nghệ thông tin thì tôi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học đều được giới thiệu và minh họa bằng hình vẽ, tranh ảnh. Một câu truyện, một bài thơ thì đòi hỏi cần phải có nhiều phân cảnh, nhiều nhân vật, nếu để giáo viên không có năng khiếu vẽ thì không biết sẽ làm như thế nào và không hẳn tác phẩm nào cũng có tranh minh họa nội dung. Điều 10
  11. này là một cản trở lớn trong việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học, nhận thức của trẻ về tác phẩm không trọn vẹn, sâu sắc. Nhưng khi có công nghệ thông tin thì việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học đã thuận tiện, dễ dàng hơn rất nhiều. Bởi những hình ảnh minh họa sắc nét, video hoạt hình ngộ nghĩnh được tôi tìm kiếm, sưu tầm và tải về khiến trẻ thêm hứng thú với bài học. Bên cạnh đó, trẻ còn được làm quen thêm nhiều tác phẩm văn học mới nằm ngoài chương trình giáo dục của trẻ. Trẻ được xem, được nghe những câu truyện, bài thơ hay qua đó trẻ thêm phát triển ngôn ngữ của mình, trẻ bắt chước giọng điệu đọc thơ, kể truyện diễn cảm. Nhờ có công nghệ thông tin, việc giảng dạy của tôi dễ dàng hơn rất nhiều. Tôi thể hiện bài giảng của mình trên chương trình trình chiếu Powerpoint kết hợp những hiệu ứng khác nhau. Bài học trở nên đặc sắc, thu hút và tạo sự bắt mắt, hứng thú ở trẻ. Tôi nhận ra rằng, khi ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giờ làm quen với tác phẩm văn học mang lại nhiều lợi ích cho cả giáo viên và trẻ. Bài giảng điện tử giúp giáo viên nhiều trong việc giảng dạy, giáo viên có thể tìm kiếm, tải những hình ảnh, video minh họa cho những câu truyện, bài thơ mà mình sẽ dạy. Ngoài những câu truyện, bài thơ trong chương trình học, trẻ còn biết thêm rất nhiều những câu truyện mới mẻ mà trẻ chưa từng được nghe, hay những bộ phim trẻ chưa từng được xem. Vốn hiểu biết của trẻ được mở rộng, ngôn ngữ trẻ ngày càng tăng lên. + Làm quen với toán: Thay vì phương pháp truyền thống khi dạy trẻ làm quen với toán: nhận biết về hình học hay số lượng chỉ sử dụng loto bằng giấy hay nhựa và sắp xếp trên bề mặt phẳng quá đỗi quen thuộc thì tôi đã áp dụng thực hiện ngay trên máy tính. Với việc xây dựng giáo án điện tử dưới dạng trình chiếu Powerpoint, tôi đã tải hình ảnh của đối tượng cần sử dụng và bằng với những hiệu ứng khác nhau cho các đối tượng lần lượt xuất hiện. Cách làm này kích thích sự tò mò, thích khám phá ở trẻ. 11
  12. (Trẻ học nhận biết, phân biệt hình vuông – hình tròn) + Âm nhạc: Tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin bằng việc tìm kiếm, lựa chọn và đưa những đoạn phim, hình ảnh minh họa cho bài hát mà mình dạy. Cùng đó là những bản nhạc beat không lời để trẻ hát, những đoạn nhạc với giai điệu, tiết tấu khác nhau để trẻ chơi trò chơi “Khiêu vũ cùng bóng” hoặc trò chơi “Hát theo tranh” bằng cách mở ô số, ô số có hình ảnh minh họa của bài hát nào thì sẽ phải hát đúng bài hát đó. + Tạo hình: Khi gây hứng thú, mở đầu cho bài học tôi cho trẻ hát, xem những hình ảnh đẹp liên quan bài học hay trong quá trình trẻ thực hiện thì tôi lựa chọn những bản nhạc phù hợp trên mạng đã tải về để mở tạo tâm thế thoải mái, phấn chấn cho trẻ. * Hoạt động chiều, trả trẻ: Đây là thời điểm trẻ đã gần kết thúc cho hoạt động của cả một ngày ở lớp. Tôi cho trẻ xem những chương trình thiếu nhi mang tính giáo dục trẻ trên trang mạng Youtube. Qua đây, trẻ vừa được thư giãn mà vẫn tiếp thu được kiến thức, kỹ năng mà video đó mang lại. Biện pháp 4: Khai thác, xây dựng kho tư liệu điện tử Quá trình giáo dục trẻ là một quá trình có ý nghĩa thiêng liêng, cao quý nhưng cùng đó là bao khó khăn, vất vả. Nó bao gồm rất nhiều các hoạt động khác nhau và mỗi hoạt động đều có đặc trưng riêng. Việc thiết kế bài giảng điện tử của mỗi bài học cũng vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng khác. Muốn trẻ hứng thú, có ấn tượng với một bài thơ, câu truyện thì ngoài giọng đọc, giọng kể của cô truyền cảm thì việc cho trẻ vừa nghe, vừa quan sát những hình 12
  13. ảnh, video, đoạn nhạc, được tải trên mạng là rất cần thiết. Những hình ảnh, video ấy dễ dàng ghi sâu vào tâm trí của trẻ, giúp trẻ ghi nhớ bài rõ hơn, lâu hơn. Để có một bài giảng điện tử hay, độc đáo đòi hỏi phải có nhiều tư liệu: hình ảnh, video, âm thanh, chân thực, sống động ứng dụng để trình chiếu vào bài. Tuy nhiên ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động giáo dục đòi hỏi tư liệu rất phong phú, phải có quá trình tìm kiếm hoặc tạo dựng rất công phu, nhiều khi rất mất thời gian. Do đó, bên cạnh việc nâng cao về trình độ tin học, máy móc thiết bị, thì xây dựng kho “tư liệu điện tử” là việc làm cần thiết. Để tìm kiếm, khai thác nguồn tư liệu để có thể xây dựng kho “tư liệu điện tử”, tôi đã thực hiện bằng cách: + Tìm tài liệu qua các trang mạng internet: Một số trang web cho phép tìm kiếm nguồn tài nguyên khổng lồ như: , Để có thể truy cập được những trang web này đòi hỏi máy tính phải được kết nối mạng Internet hoặc có sử dụng USB 4G để vào mạng bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Truy cập vào trang mạng tôi có thể tìm được những tư liệu mà tôi mong muốn để phục vụ cho bài giảng của mình: hình ảnh minh họa cho bài thơ, video kể truyện hay cho trẻ nghe hay những bản nhạc rap vui nhộn làm nhạc nền cho trẻ đọc những bài vè, Bên cạnh việc sử dụng những gì có sẵn trên mạng tôi cũng sử dụng những hình ảnh mà tôi chụp được. Tôi sử dụng những phần mềm có chức năng chỉnh sửa, cắt ghép như: phần mềm unlead video studio, window movie maker, todal video converter để tạo nên những bức ảnh, video cần thiết, hỗ trợ cho bài dạy của mình. Song song đó, tôi còn tích cực học tập, khai thác tư liệu trên nhiều trang mạng khác nhau, tôi chủ động tham gia các nhóm đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm của các giáo viên mầm non trên toàn quốc qua trang mạng Facebook hay Zalo. Qua đó tôi có thêm nhiều những tư liệu về hình ảnh, video, giáo án điện tử, mà đồng nghiệp chia sẻ, cũng như những tâm sự, sẻ chia về kinh nghiệm hoạt động giáo dục mà họ đã rút ra được. Các tư liệu sau khi được sưu tầm, tôi tổng hợp và phân thành các File cụ thể: + File hình ảnh tĩnh + File hình ảnh động + File âm thanh + Những đoạn nhạc + Các clip, đoạn phim. Và nhờ có những tư liệu có sẵn mà việc thiết kế các bài giảng của tôi trở nên dễ dàng hơn, tiết kiệm thời gian hơn. 13
  14. (Kho tư liệu của tôi) Biện pháp 5: Ứng dụng các phần mềm hỗ trợ trong xây dựng giáo án điện tử Để có thể tự mình soạn thảo giáo án, trình chiếu được trên máy tính tôi bắt buộc phải biết sử dụng thành thạo một số phần mềm phổ thông. Microsoft Word: Phần mềm soạn thảo văn bản, soạn công văn, báo cáo, kế hoạch và tất cả các loại giấy tờ tài liệu khác. Tôi dùng để soạn giáo án, có thể in ra để sử dụng, lưu trữ trên máy tính hoặc chia sẻ trên mạng internet. Microsoft Excel: là phần mềm tạo bảng tính nên không sử dụng trong việc soạn giảng giáo án. Tôi sử dụng phần mềm để đánh giá trẻ nhận thức của trẻ cuối các chủ đề, Adobe Photoshop: là phần mềm thông dụng nhất để chỉnh sửa ảnh Ngoài những phần mềm trên, tôi còn tìm hiểu và ứng dụng thêm một số phần mềm hữu ích khác trong việc xây dựng các bài giảng hỗ trợ cho việc giảng dạy. Microsoft Powerpoint: Đây đang được coi là phần mềm được giáo viên sử dụng nhiều nhất khi xây dựng bài để tạo sự hứng thú, lôi cuốn ở trẻ. Phần mềm cho phép soạn giảng giáo án điện tử lồng ghép những hình ảnh, video, đoạn nhạc, , với những hiệu ứng bắt mắt, hình nền đẹp đẽ. Ví dụ: Sau đây, là một số thao tác thiết kế slide bài giảng điện tử Powerpoint. * Muốn xây dựng thiết kế slide cho bài giảng điện tử Powerpoint Bước 1: Chọn Slide cần đổi nền Bước 2: Chọn Format/ Slide Design/ Design Templates hoặc Slide Design Bước 3: Tìm màu nền cho File cần chèn * Cách chèn hình ảnh vào Slide Cách 1: Chọn Insert/Picture/Ảnh cần chèn/Insert (Thực hiện đối với hình ảnh đã được tải về lưu trong máy). Cách 2: Insert/Online Pictures/Điền nội dung hình ảnh cần tìm vào ô Search Bing/Ảnh cần chèn/Insert. (Thực hiện với hình ảnh tìm trực tiếp trên mạng) * Cách chèn chữ nghệ thuật vào Slide 14
  15. Chọn phông chữ Times New Roman/ biểu tượng A (Wordat)/chọn kiểu chữ/OK * Cách chèn âm thanh vào bài giảng điện tử Powerpoint - Đối với file âm thanh đã được tải và lưu trong máy: Chọn Insert/Audio/Audio on My PC/tìm mục âm thanh cần chèn/Insert. * Cách chèn video vào bài giảng điện tử Powerpoint - Video đã được tải và lưu trong máy: Chọn Insert/Video on My PC/tìm video cần chèn/Insert. Nếu không tìm thấy đoạn video thì đổi đuôi All files. Mở video/ok/Automatically/ hiện ra đoạn video. - Tìm video trực tiếp trên mạng để chèn: Insert/Online Video/Điền nội dung video cần tìm vào ô Search Youtube/Video cần chèn/Insert. * Cách tạo hiệu ứng: - Hiệu ứng chuyển slide: + Chọn slide cần tạo hiệu ứng/Chọn Transitions/Chọn hiệu ứng chuyển trang trong phần Transition to This Slide. + Chỉnh sửa hiệu ứng được thực hiện trong phần Timing. + Để xem trước hiệu ứng, chọn Preview. + Để xóa hiệu ứng, chọn None trong phần Transition to This Slide. - Tạo hiệu ứng cho văn bản: + Chọn đoạn văn bản cần tạo hiệu ứng/Chọn Animations/Chọn hiệu ứng trong khung Animation. + Chỉnh sửa hiệu ứng, thực hiện trong phần Timing. + Kiểm tra và chỉnh sửa, chọn Animation Pane. + Xóa hiệu ứng: bôi đen đoạn văn bản và chọn None trong phần Animation. - Tạo hiệu ứng cho hình ảnh: + Chọn hình ảnh cần tạo hiệu ứng/Animations/Chọn hiệu ứng trong khung Animation. + Chỉnh sửa hiệu ứng, thực hiện trong phần Timing. + Xóa hiệu ứng: bôi đen đoạn văn bản và chọn None trong phần Animation. Để có thể xuất hiện nhiều hiệu ứng nhau để bạn thỏa sức lựa chọn thì chọn More bên dưới khung hiệu ứng. Enchance: hiệu ứng xuất hiện Emphasis: hiệu ứng nhấn mạnh, nhấp nháy đối tượng đang có trên màn hình. Exit: Hiệu ứng biến mất, đối tượng sẽ bị giấu đi theo kiểu chuyển động và cài đặt mà bạn thiết lập. 15
  16. Motion paths: hiệu ứng chuyển động theo đường vẽ, đối tượng sẽ xuất hiện và biến mất theo đường vẽ trước đó. Phần mềm Powerpoint hiện nay là một phần mềm hỗ trợ trong giảng dạy mang lại hiệu quả nhất. Tuy nhiên, xu hướng đang chuyển dần sang các phần mềm khác hiện đại hơn, dễ dàng hơn và không phải gặp phải vấn đề bản quyền. Phần mềm e- Learning: với phần mềm này tôi có thể xây dựng những bài giảng thành những video học tập sinh động, hấp dẫn, thu hút trẻ. Tôi gửi cho cha mẹ trẻ để cha mẹ dạy cho con khi ở nhà. Và đây cũng là kho tư liệu của tôi. Ngoài ra còn một số phần mềm khác như phần mềm Window Movie Maker: Phần mềm này có sẵn trong chương trình Windows nhưng không phải ai cũng chú ý tới nó. Thao tác đơn giản: chọn Start/ Program/Window Movie Maker, biểu tượng là một cuộn phim. Phần mềm này cho phép tôi làm giáo án như những đoạn phim. Tôi có thể đưa tranh ảnh, video, âm thanh, chữ viết vào bài giảng của mình và làm hiệu ứng cho chúng thật sống động. Và một tiện ích của phần mềm này là cho phép chúng ta ghi âm giọng nói của mình bằng cách: nhấp vào biểu tượng cái Micro và làm theo chỉ dẫn. * Phần mềm Kidsmart: Kidsmart gồm có các phần mềm trò chơi vui học: Ngôi nhà toán học của Sammy, Ngôi nhà sách của Bailey và Thế giới sôi động Thinkin’s things Phần mềm này hướng dẫn trẻ học và chơi một cách sáng tạo. Phần mềm gồm các tùy chọn: Oranga Banga, các hướng dẫn viên Fripple, các hình cầu Bloxbay, các hình khối Bloxbay, tạo các chú chim, Toony Loon. * Phần mềm Kidpix: Là một phần mềm có sẵn trong Microsoft Office Power point, không chỉ có tính năng trình chiếu dữ liệu mà còn là môi trường mở cho phép tạo ra các trò chơi câu truyện phong phú từ các hiệu ứng bên trong cũng như khả năng tiếp nhận dữ liệu từ bên ngoài, tạo sự linh hoạt và tính tương tác khá phong phú cho sản phẩm của mình. Phần mềm gồm 2 giao diện chính: - Giao diện 1: Là phần chứa các công cụ đồ họa giúp tạo nên những bức tranh. Sử dụng những công cụ vẽ thông thường. - Giao diện 2: là phần bảng trình chiếu, cho phép giới thiệu những bức tranh tạo ra ở giao diện 1 hoặc tạo ra những câu truyện tranh hay những bộ phim hoạt hình bằng kỹ thuật ghép hình ảnh. Ứng dụng Kidpix vào tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ: - Làm quen văn học: + Tạo tranh cho phần kể truyện + Đọc thơ cho trẻ nghe 16
  17. + Làm phim hoạt hình về một bài thơ hoặc câu truyện. - Làm quen môi trường xung quanh: + Giới thiệu hình ảnh liên quan đến một sự vật, hiện tượng nào đó. + Tạo phim hoạt hình về động vật, thực vật, tự nhiên để minh họa cho bài giảng. + Đưa thêm các hình ảnh thực vào trình chiếu sau khi chỉnh sửa. - Hoạt động âm nhạc: + Đưa đoạn phim, hình ảnh minh họa cho bài hát. + Đưa nhạc không lời có hình ảnh minh họa để trẻ hát. + Trò chơi âm nhạc: Lật miếng ghép, hát bài hát theo tranh minh họa. - Làm quen với toán: + Đếm số lượng đối tượng lên bảng + Chia một nhóm đối tượng thành 2 phần: sử dụng chức năng “băng keo hình ảnh”. Lưu ý: Khi sử dụng các phần mềm giáo dục, không nên quá lạm dụng vì nếu không sẽ làm mất đi tính thẩm mỹ của bài giảng. Ví dụ như lựa chọn phông chữ, màu chữ, hiệu ứng hình ảnh... chúng ta nên chọn màu chữ và màu nền không quá tương phản, hiệu ứng hình ảnh không quá rối nếu không học sinh của bạn sẽ nhức mắt và không thể chú ý vào bài giảng được, gây tác dụng ngược. Biện pháp 6: Tuyên truyền, phối hợp tốt với phụ huynh trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giáo dục trẻ. Công nghệ thông tin phát triển cùng với những thiết bị hiện đại: điện thoại thông minh, máy tính, Ipad và các trang mạng có chức năng hỗ trợ gắn kết, liên kết giữa mọi người với nhau như: Facebook, zalo. Tạo điều kiện cho tôi đến gần với phụ huynh hơn. Đây là phương tiện hữu ích để tôi trao đổi với phụ huynh về tình hình thông tin về mọi mặt của trẻ khi ở lớp như: sức khỏe, hành vi, những hoạt động giáo dục hàng ngày của con để phụ huynh nắm bắt được. Bên cạnh đó, tôi còn gửi cho phụ huynh những hình ảnh, video về nội dung bài học để phụ huynh hướng dẫn, dạy cho con khi ở nhà. Đồng thời, phụ huynh cũng sẽ tương tác gửi lại cho tôi những hình ảnh về sản phẩm trẻ tạo ra hay video trẻ hát, đọc thơ, kể truyện mà trẻ thể hiện khi ở nhà. Qua đó, trẻ không chỉ được học trên lớp mà khi ở nhà cha mẹ chính là những người thầy, người cô dạy cho con những bài học mới, giúp con hiểu bài tốt hơn và tình cảm gia đình được tăng lên rất nhiều. 17
  18. (Tương tác giữa giáo viên và phụ huynh) 7.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến: Đề tài này phù hợp với khả năng nhận thức của giáo viên mầm non, của trẻ và tình hình thực tế của nhà trường, mang lại hiệu quả cao trong việc giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ. 8. Những thông tin cần được bảo mật (không) 9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến Sáng kiến được áp dụng trong tất cả các hoạt động giáo dục trẻ. Được sự đầu tư, ủng hộ về trang thiết bị công nghệ thông tin từ phía nhà trường. Giáo viên phải có kiên trì, chủ động, ham tìm tòi, học hỏi. 10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả. * Hiệu quả kinh tế: - Tiết kiệm thời gian Tôi không phải mất nhiều thời gian để làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động giảng dạy, thay vào đó chỉ cần vài thao tác nhỏ, đơn giản đã có thể sở hữu được nguồn tư liệu dồi dào, phong phú. Có thể thực hiện việc tìm kiếm ở mọi lúc, mọi nơi. - Tiết kiệm về kinh tế: + Bài giảng đã được ứng dụng công nghệ thông tin nên giáo viên không phải mất tiền mua nguyên, vật liệu làm đồ dùng, đồ chơi cho bài học. * Hiệu quả về xã hội và môi trường: - Kiến thức về tin học, công nghệ thông tin được trau dồi, phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội. 18
  19. - Tránh được vấn đề ô nhiễm môi trường, vứt rác bừa bãi và một số bệnh tật nguy hiểm. 10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: Sau khi đã áp dụng một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ cùng với tấm lòng nhiệt huyết, yêu nghề, mến trẻ và nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhà trường, đồng nghiệp tôi thấy có những tiến bộ rõ rệt như sau: * Về giáo viên: - Hiểu được vai trò và ý nghĩa của công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục. - Có nhiều sáng tạo trong thiết kế bài giảng điện tử, góp phần xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, hiện đại và phát triển. - Tự tin hơn khi lên lớp và nắm được quan điểm mục tiêu đào tạo, nội dung, phương pháp giáo dục mầm non theo hướng đổi mới. * Về trẻ: - Với một số hình thức ứng dụng phần mềm vào các hoạt động giảng dạy trẻ, tôi nhận thấy 92% trẻ thích thú, chăm chú vào tiết học bởi những hình ảnh, âm thanh sống động một cách chủ động. Chất lượng kiến thức ở các hoạt động truyền đạt đến trẻ, kết quả đạt được hết sức khả quan. Cụ thể như sau: Nội dung khảo sát Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng So sánh Trẻ hứng thú tham Trẻ đạt: Trẻ đạt: Trẻ đạt tăng gia các hoạt động 15/25 trẻ = 60% 23/25 = 92% 32% Trẻ nắm được kiến Trẻ đạt: Trẻ đạt: Trẻ đạt tăng thức các hoạt động 14/25 trẻ = 56% 22/25 = 88% 32% Trẻ có kỹ năng Trẻ đạt: Trẻ đạt: Trẻ đạt tăng trong các hoạt 12/25 trẻ = 48% 24/25 = 96% 48% động Nhận xét: Nhìn vào bảng so sánh trên cho ta thấy sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm thì số trẻ đạt tăng lên; chứng tỏ rằng các biện pháp đưa ra giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giáo dục trẻ có hiệu quả cao. - Trẻ lĩnh hội được kiến thức dễ dàng hơn, hứng thú hơn với các bài học. 19
  20. - Trẻ mạnh dạn hơn trong giao tiếp, biết thể hiện tình cảm với bạn bè và cô giáo, hứng thú trong mọi hoạt động. - Trẻ có nhiều cơ hội được tham gia các hoạt động, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm, kỹ năng sử dụng máy tính cần thiết. * Về phụ huynh: Phụ huynh hoàn toàn yên tâm và tin tưởng khi con em được học theo phương pháp này. Phụ huynh tích cực, chủ động sẵn sàng phối hợp hỗ trợ cùng cô giáo trong các hoạt động giáo dục trẻ tại gia đình. * Sau gần một năm thực hiện đề tài này tôi đã rút ra một số kinh nghiệm như sau: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là một phương pháp mới đa hình thức và đang được mọi người quan tâm. Thực hiện công việc này giúp tôi học hỏi được nhiều thứ từ các nguồn thông tin khác nhau trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu. Mặt khác, việc cho trẻ làm quen, tiếp cận công nghệ thông tin sớm là một phương án tốt nhằm giúp trẻ hình thành thêm một số kỹ năng sống cần thiết trong thời đại công nghệ mở rộng như ngày nay. Tuy nhiên chúng ta cũng không nên lạm dụng nhiều việc ứng dụng công nghệ thông tin vì trẻ luôn là trung tâm và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng chỉ là phương tiện giúp cho ta trong việc đạt đến mục tiêu chính là phát triển toàn diện cho trẻ. Giáo viên phải hết mực yêu thương trẻ, luôn gần gũi và đối xử công bằng với mọi trẻ. Không ngừng học tập, rèn luyện, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cùng trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau không chỉ trong trường mà cả các đơn vị bạn. Công tác phối kết hợp giữa giáo viên với gia đình luôn được trú trọng và quan tâm để là cầu nối vững chắc trong việc giáo dục trẻ. Cha mẹ là người thầy của con, truyền đạt kiến thức cho con khi ở nhà. Tích cực tham mưu với ban giám hiệu nhà trường để được đầu tư mua sắm các trang thiết bị, các điều kiện để phục vụ tốt cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ. 10.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân: Bản sáng kiến “Một số biện pháp giúp giáo viên mầm non ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ” của tôi đã được áp dụng trong nhà trường và đạt hiệu quả cao, được đánh giá xếp loại tốt. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong hoạt động giáo dục trẻ không còn là vấn đề xa lạ nhưng trong thời đại công nghệ thông tin phát triển, mỗi một ngày lại có sự cải tiến mới 20