SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong Trường Mầm non Tam Hồng
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong Trường Mầm non Tam Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_chi_dao_nang_cao_chat_luong_cham_soc_n.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong Trường Mầm non Tam Hồng
- BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non” 1. Lời giới thiệu Giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành nên nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt. Như Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm phải trồng người” Đúng như vậy, sự nghiệp đổi mới đất nước đòi hỏi mỗi con người phải tự rèn luyện bản thân, trau dồi phẩm chất đạo đức để trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Những con người có đủ sức, đủ tài để góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh. Muốn đào tạo thế hệ trẻ tương lai cho đất nước chúng ta phải biết chăm sóc - giáo dục trẻ ngay từ lứa tuối mầm non. Vì giai đoạn phát triển của trẻ ở lứa tuổi này có tính quyết định đến thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ của trẻ trong suốt cả cuộc đời. Chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt sẽ có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở các bậc học tiếp theo, chất lượng giáo dục mầm non quyết định tới sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, trí tuệ và thẩm mỹ. Có thể nói nhân cách con người trong tương lai như thế nào phụ thuộc lớn vào sự giáo dục của trẻ ở trường mầm non. Trẻ mầm non có thời gian ở trường với cô giáo từ 8 đến 10 tiếng do vậy chỉ gia đình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt vẫn chưa đủ mà các bữa ăn của trẻ ở trường vô cùng quan trọng, nó có ảnh hưởng lớn và quyết định đến sức khoẻ của trẻ vì nhu cầu về năng lượng của trẻ ở trường chiếm 60-70% tổng năng lượng trong ngày của trẻ do vậy việc nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày cho trẻ ở tại trường mầm non đảm bảo dinh dưỡng cân đối hài hoà giữa chất và lượng là góp phần làm giảm tỷ lệ và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ có hiệu quả nhất, tạo điều kiện cho trẻ 1
- phát triển toàn diện nhất về mọi mặt, do điều kiện vùng nông thôn nhận thức về tầm quan trọng của bậc học mầm non trong nhân dân còn hạn chế, một số gia đình phải đi làm ăn kinh tế xa nhà, để trẻ ở nhà với ông bà nên việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ theo khoa học còn hạn chế và chưa kịp thời. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với trẻ. Với trách nhiệm là người cán bộ quản lý, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ để trẻ phát triển toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ. Đây là nhiệm vụ quan trọng đối với bậc học mầm non nói chung và đối với trường mầm non chúng tôi nói riêng. Chính vì lý do đó tôi chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non” nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non ngày một tốt hơn. 2. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non” 3. Tác giả sáng kiến: - Họ và tên: Phạm Thị Ngọc Lan - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường MN Tam Hồng - huyện Yên Lạc - Tỉnh Vĩnh Phúc. - Số điện thoại: 0975 198 184 E_mail: [email protected] 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: - Họ và tên: Phạm Thị Ngọc Lan - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường mầm non Tam Hồng- Huyện Yên Lạc - Tỉnh Vĩnh Phúc. - Số điện thoại: 0975 198 184 E_mail: [email protected] 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công tác chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. 2
- 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 06 tháng 9 năm 2016. 7. Mô tả bản chất của sáng kiến: 7.1. Nội dung của sáng kiến: 7.1.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến: Như chúng ta đã trường mầm non có nhiệm vụ “Tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình chăm sóc, giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành”, không những thế trường mầm non còn phải “Chủ động kết hợp với cha mẹ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; kết hợp với các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội nhằm tuyên truyền, phổ biến kiến thức về khoa học nuôi dạy trẻ em cho gia đình và cộng đồng” . Chính vì vậy vài trò của công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non là rất quan trọng. Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi nhà trường phải có sự quan tâm đích đáng đến hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng, không thể coi trọng việc “Dạy” mà xem nhẹ việc “Nuôi”. Hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non có vai trò quan trọng bởi ở trường mầm non trẻ được ăn, ngủ, chăm sóc, theo dõi sức khỏe bằng biểu đồ tăng trưởng và khám sức khỏe định kỳ, được phòng chống dịch bệnh và tham gia vào các hoạt động để phát triển thể chất. Việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ có được tốt, đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc lớn vào cách chỉ đạo tổ chức hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng của người quản lý; các điều kiện về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực. Trong đó vai trò chỉ đạo của người quản lý và năng lực đội ngũ giáo viên, nhân viên có vai trò quyết định chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Bởi vì người quản lý có tìm ra biện pháp chỉ đạo đúng đắn thì mới đem lại hiệu quả; người giáo viên, nhân viên mầm non có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn vững vàng thì việc tổ chức hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ mới tốt được. Bác Hồ của chúng ta đã đã nói: “Làm mẫu giáo là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm được thế thì trước hết 3
- phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ cũng như trồng cây non. Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt”. (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia). Mặt khác trẻ lứa tuổi mầm non cơ thể chưa được phát triển hoàn chỉnh, song lại là độ tuổi phát triển mạnh, do vậy việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tốt là rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ trước mắt cũng như tạo tiền đề về sau. 7.1.2. Nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non: a) Tổ chức giờ ăn cho trẻ: - Xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với độ tuổi. + Nhu cầu năng lượng tại trường của 1 trẻ trong 1 ngày ở trường: Nhà trẻ: 708-826 Kcalo (hai bữa chính, một bữa phụ) Mẫu giáo: 735-882 Kcalo (một bữa chính, một bữa phụ) + Tỷ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị theo cơ cấu: Nhà trẻ: Chất đạm (P) cung cấp khoảng 12-15% năng lượng khẩu phần. Chất béo (L) cung cấp khoảng 35-40% năng lượng khẩu phần. Chất bột (G) cung cấp khoảng 45-53% năng lượng khẩu phần. Mẫu giáo:Chất đạm (P) cung cấp khoảng 12-15% năng lượng khẩu phần. Chất béo (L) cung cấp khoảng 20-30% năng lượng khẩu phần. Chất bột (G) cung cấp khoảng 55-68% năng lượng khẩu phần. - Nước uống: + Nhà trẻ: Khoảng 0,8-1,6 lít / trẻ / ngày (kể cả nước trong thức ăn) + Mẫu giáo: Khoảng 1,6 -2,0 lít / trẻ / ngày (kể cả nước trong thức ăn) - Xây dựng thực đơn hang ngày theo tuần, theo mùa. b) Tổ chức giờ ngủ: - Cho trẻ ngủ 1 giấc buổi trưa khoảng 150 phút đối với cả trẻ mẫu giáo và trẻ nhà trẻ (24-36 tháng). 4
- c) Vệ sinh: - Vệ sinh cá nhân: Vệ sinh các đồ dùng cá nhân của trẻ; hướng dẫn trẻ thực hiện vệ sinh cá nhân - Vệ sinh môi trường: Vệ sinh phòng nhóm, đồ dùng đồ chơi. Giữ sạch nguồn nước và xử lý rác thải. d) Chăm sóc sức khỏe và an toàn: - Khám sức khỏe định kỳ. Theo dõi đánh giá sự phát triển của cân nặng và chiều cao theo lứa tuổi. Phòng chống suy dinh dưỡng, béo phì. - Phòng tránh các bệnh thường gặp. Theo dõi tiêm chủng. - Bảo vệ an toàn và phòng tránh một số tai nạn thường gặp. 7.1.2. Thực trạng về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non Tam Hồng – huyện Yên Lạc. a) Đặc điểm tình hình chung: Trường mầm non Tam Hồng được thành lập từ năm 1992. Những năm đầu mới thành lập, cơ sở vật chất của nhà trường rất khó khăn, phòng học đều là nhà cấp 4 đã xuống cấp, một số lớp phải học nhờ các nhà văn hoá ở các thôn, xóm, sân chơi bãi tập không đạt tiêu chuẩn, các phòng chức năng không có, đội ngũ giáo viên thiếu cả về cơ cấu và số lượng. Thực hiện quyết định 45/2001 ngày 26 tháng 12 năm 2001 của Bộ giáo dục và đào tạo ban hành quy chế trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, với sự quan tâm của Đảng, chính quyền địa phương, sự quyết tâm phấn đấu của tập thể CB- GV trong nhà trường, năm học 2003 - 2004 trường đã được Bộ giáo dục công nhận là trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức độ1. Trong những năm qua được sự lãnh đạo của ngành giáo dục các cấp, sự chăm lo của Đảng, chính quyền địa phương, sự quan tâm ủng hộ của nhân dân và các bậc phụ huynh học sinh đến nay cơ sở vật chất nhà trường tương đối khang trang, sạch đẹp với tổng diện tích 14.763,4 m 2; các phòng học được xây dựng kiên cố và bán kiên cố và các phòng chức năng theo đúng quy định, có hệ 5
- thống trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi đáp ứng công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non. Năm học 2016-2017 trường có tổng số 25 nhóm, lớp trong đó có 2 nhóm trẻ và 23 lớp mẫu giáo; tổng số trẻ ra lớp là 746 cháu, trong đó có 54 cháu nhà trẻ, 692 cháu mẫu giáo; tỷ lệ trẻ mẫu giáo đến trường đạt 99,8% và được phân chia theo đúng độ tuổi. Nhà trường có tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên: 39 người. 100% CB, GV có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn, có phẩm chất đạo đức tốt, chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có tinh thần trách nhiệm trong công tác, năng động, sáng tạo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. b) Thuận lợi và khó khăn: * Thuận lợi: - Có các văn bản chỉ đạo hướng dẫn công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. - Sự quan tâm chỉ đạo sát sao của phòng GD&ĐT huyện Yên Lạc; sự quan tâm của Đảng, chính quyền địa phương; sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể trong xã đối với trường mầm non. - Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên nhân viên trong nhà trường đều nhiệt tình, có tâm huyết yêu nghề mến trẻ. Trình độ chuyên môn tương đối đồng đều, 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đều đạt trình độ chuẩn, đạt trên chuẩn chiếm 82%. - Tỷ lệ trẻ ăn bán trú: 100% số trẻ học tại trường, Trẻ các lớp đều được chia theo độ tuổi thuận lợi cho giáo viên khi thực hiện các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. - Có các phần mềm hỗ trợ cho công tác quản lý và tính ăn giúp cho nhà trường tổng hợp báo ăn, tính ăn nhanh và chính xác. * Khó khăn: - Tỷ lệ trẻ đến trường mầm non tăng nhanh do vậy số phòng học và đội ngũ thiếu so với qui định phần nào ảnh hưởng đến công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. 6
- - Nhà trường thiếu 01 Phó hiệu trưởng mà trẻ học tại trường lại đông, nhà trường có 2 bếp ăn ở 2 điểm trường nên công tác quản lý, chỉ đạo gặp nhiều khó khăn. - Chưa có đội ngũ cô nuôi được đào tạo chuẩn về chuyên ngành nấu ăn mà chỉ được nhà trường bồi dưỡng kiến thức chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong thời gian 1-2 ngày. - Đa số phụ huynh sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp là chính nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn, mức thu nhập của người dân thấp phần nào ảnh hưởng đến mức đóng góp tiền ăn cho trẻ tại trường. - Số gia đình bố mẹ trẻ đi làm ăn xa đông, trẻ ở nhà với ông bà nên việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ còn nhiều hạn chế và chưa kịp thời, đặc biệt là việc nuôi dưỡng trẻ theo khoa học. 7.1.3. Đánh giá thực trạng về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trường mầm non Tam Hồng- huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc. a) Về cơ sở vật chất: Trường có khuôn viên rộng, đủ lớp học, đảm bảo cho việc tổ chức hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, đủ diện tích cho trẻ hoạt động. Nhà trường có 2 bếp ăn ở 2 điểm trường đảm bảo bảo yêu cầu. Song vì thiếu Phó hiệu trưởng nên công tác quản lý khó khăn. Có phần mềm Nutrikisd ứng dụng trong tính ăn cho trẻ, có đủ máy tính để phục vụ quản lý, ứng dụng trong chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Nhà trường trang bị đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc tổ chức hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được khá đầy đủ. b) Công tác quản lý, chỉ đạo: Nhà trường luôn quan tâm đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, có biện pháp chỉ đạo phù hợp, kịp thời. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ 7
- chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ của giáo viên, nhân viên để đánh giá và xếp loại theo kỳ và theo năm học. Tuy nhiên công tác quản lý chỉ đạo thực hiện nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ của bản thân tôi có lúc còn chưa thực sự mạnh dạn đổi mới cách quản lý, chỉ đạo. Việc cập nhật văn bản chỉ đạo của cấp trên đôi khi còn chưa kịp thời, nên biện pháp chỉ đạo đưa ra chưa sát; chưa chú trọng đến công tác khuyến khích, động viên và khen thưởng những giáo viên, nhân viên thực hiện tốt trong chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ vì vậy vẫn chưa phát huy được hiệu quả tối đa sự nhiệt tình tâm huyết của giáo viên. Việc ứng dụng công nghệ thông tin được ứng dụng chủ yếu trong giáo dục, trong hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ còn hạn chế. c) Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên: Đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trương 100% có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn, yêu nghề mếm trẻ, say mê với công việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. 100% Cán bộ, giáo viên được tham gia dự các lớp bồi dưỡng, tập huấn của Phòng giáo dục, Sở giáo dục tổ chức Đầu năm học 2016-2017 tiến hành dự giờ ăn, ngủ ở 25 lớp (35 giáo viên) để đánh giá chất lượng giáo viên thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Kết quả được thể hiện ở bảng sau: Kết quả Nội dung Tốt Khá Đạt yêu cầu Chưa đạt Tổ chức giờ ăn 18/35 GV 15/35 GV 2/35 GV 0 cho trẻ % 51,4% 42,8% 5,8% 0 Tổ chức giờ ngủ 22/35 GV 10/35 GV 3/35GV 0 cho trẻ % 62,8% 28,5% 8,7% 0 8
- Qua kết quả bảng trên cho thấy năng lực của giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ còn hạn chế. Một số giáo viên có kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ song khả năng xử lý tình huống xảy ra trong khi chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ còn lúng túng. c) Về trẻ: Trẻ ăn bán trú tại trường 746/746 trẻ = 100% . Đó là điều kiện thuận lợi để nhà trường chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng hàng năm. Song vẫn còn một số ít trẻ thể lực kém. Đánh giá đầu năm về chuyên đề “ Giáo dục dinh dưỡng- VSATTP đối với 692 trẻ mẫu giáo. Kết quả thể hiện ở bảng như sau: (phụ lục kèm theo) Nội dung Kết quả đánh giá Trẻ có kỹ năng Trẻ chưa có kỹ năng - Vệ sinh thân thể 484/692 trẻ = 69,9% 208/692 trẻ = 30,1% - Kỹ năng rửa tay 401/692 trẻ = 57,9% 291/692 trẻ = 42,1 - Kỹ năng rửa mặt 374/692 trẻ = 54% 318/692 trẻ = 46% - Kỹ năng đánh răng 122/243 trẻ = 50% 121/243 trẻ = 50% (5T) - Biết tên các loại thực 540/692 trẻ = 78% 152/692 trẻ =22% phẩm - Biết giá trị dinh dưỡng 449/692 trẻ = 64,8% 243/692 trẻ =35,2% - Nhận xét chung: Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ mẫu giáo biết tên thực phẩm, biết về dinh dưỡng, giá trị các chất dinh dưỡng trong thực phẩm cao hơn so với tỷ lệ trẻ có các kĩ năng thực hành vệ sinh cá nhân rửa tay, rửa mặt, đánh răng. * Về cân- đo theo dõi sức khỏe của trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng như sau: Nội dung Nhà trẻ Mẫu giáo TS Bình Suy DD TS Bình Thấp còi trẻ thường trẻ thường 9
- TS % TS % TS % TS % Cân 54 50 92 4 8 692 636 91,9 56 8,1 Đo 54 49 90,7 5 9,3 692 649 93,7 43 6,3 Nhìn vào bảng ta thấy tỷ lệ trẻ SDD và thấp còi khá cao. * Về chế độ ăn của trẻ: Căn cứ vào mức đóng góp của phụ huynh nhà trường đã xây dựng thực đơn cho trẻ ăn tại trường theo mùa, phù hợp theo từng độ tuổi: Nhà trẻ: 2 bữa chính + 1 bữa phụ; Mẫu giáo: 1 bữa chính + 1 bữa phụ, Xong thực đơn các bữa ăn của trẻ chưa được thay đổi thường xuyên để bổ xung phong phú các loại thực phẩm dẫn đến trẻ ăn ít, đôi khi trẻ vẫn còn bỏ cơm và ăn chưa hết xuất; Năng lượng Kclo đạt được tại trường đối với trẻ mới chỉ đạt 650- 780 Kclo mà theo qui định phải đạt 735 - 882 Kcalo. Từ những kết quả đó cho thấy với mức ăn 10.000 đồng thì lượng Kcalo của trẻ đạt được tại trường còn thấp, chất lượng bữa ăn của trẻ chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu về dinh dưỡng của trẻ ở trường mặc dù thực đơn xây dựng đã phù hợp với trẻ và theo mùa. Vậy để nâng cao chất lượng bữa ăn đảm bảo tỷ lệ theo nhu cầu về năng lượng của trẻ ở trường và nâng tỷ lệ trẻ phát triển bình thường về chiều cao, cân nặng theo độ tuổi so với chỉ tiêu phấn đấu năm học 2016 - 2017 giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân xuống dưới 4% và suy dinh dưỡng thể thấp còi xuống dưới 5,0 % là rất khó khăn. Để đạt được mục tiêu đã đề ra và hoàn thành tốt các chỉ tiêu về kế hoạch nhiệm vụ năm học 2016 - 2017 tôi luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. Từ những thuân lợi, khó khăn và thực trạng nêu trên tôi đã nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non đạt hiệu quả cao hơn. 10
- 7.2. Các giải pháp: 7.2.1. Biện pháp 1: Cập nhật, nghiên cứu văn bản hướng dẫn về chăm sóc, nuôi dưỡng để xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện kịp thời. Để làm tốt nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ thì cần phải hiểu và bám sát vào các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của nghành. Nếu việc cập nhật văn bản một cách thường xuyên, kịp thời giúp cho nhà trường có căn cứ để xác định được mục tiêu, nhiệm vụ từ đó chỉ đạo nhà trường thực hiện nhiệm vụ mới chính xác, có hiệu quả. Một công việc hết sức cần thiết đòi hỏi phải có sự lựa chọn, khoa học đó là xây dựng kế hoạch. Xây dựng kế hoạch giúp cho chúng ta định hướng, có mục tiêu, tìm giải pháp để thực hiện có hệ thống mang lại hiệu quả cao. Dựa vào văn bản hướng dẫn của Sở GD, Phòng GD cùng với nhận định về tình hình thực tế của đơn vị. Tôi nghiên cứu xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ một cách khoa học mang tính khả thi. Muốn vậy khi xây dựng kế hoạch tôi đã dựa vào tình hình thực tế của trường về cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ giáo viên, nhân viên, đặc điểm nhận thức của trẻ; từ đó xây dựng kế hoạch, đưa ra những nội dung và biện pháp cụ thể, sát thực. Xây dựng kế hoạch xong tôi gửi qua [email protected] để giáo viên, nhân viên tham gia đóng góp ý kiến bổ sung vào kế hoạch, sau đó hoàn thiện kế hoạch và triển khai trước Hội đồng sư phạm nhà trường để giáo viên làm căn cứ xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện của lớp mình phụ trách. Ngoài ra tôi còn triển khai đầy đủ, kịp thời các văn bản của cấp trên thông qua các buổi họp Hội đồng sư phạm, các buổi sinh hoạt chuyên môn như: Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2016-2017, nhiệm vụ trọng tâm giáo dục mầm non năm học 2016-2017; Thông tư số 13/2010/TT- BGDĐT ngày 15/4/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích trong cơ sở GDMN. Thực hiện nghiêm túc Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT- BYT- BGDĐT ngày 12/5/2016 quy định về công tác Y tế trường học . 11
- Qua Hội nghị “ Cán bộ, viên chức” đầu năm tôi đã triển khai kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học, giao chỉ tiêu phát triển về số lượng và chất lượng cho các lớp đồng thời đưa ra các giải pháp thực hiện chỉ tiêu sau đó. Tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên ký cam kết đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non. 7.2.2. Biện pháp 2: Tăng cường đầu tư trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ: Cơ sở vật chất là các điều kiện cần thiết giúp cho nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ. Với hoạt động giáo dục giáo viên có thể tận dụng được các điều kiện, nguyên vật liệu tự nhiên để thực hiện nhưng đối với hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng cần rất nhiều đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị có giá trị lớn: Tủ sấy bát, bàn chia ăn, phản ngủ, tủ để đồ dùng cá nhân, chăn chiếu cho trẻ . Chính vì vậy ngay từ đầu năm học tôi đã tổ chức tiến hành kiểm kê cơ sở vật chất để kịp thời có kế hoạch mua bổ xung, thay thế, bảo dưỡng đồ dùng, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng. Có kế hoạch phân bổ sử dụng cơ sở vật chất, giao nhận cho từng giáo viên, nhân viên. Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc sử dụng đồ dùng của từng giáo viên, nhân viên trong việc sử dụng đồ dùng để tổ chức các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, bảo quản đồ dùng, thiết bị; sử dụng và bảo quản đồ dùng đạt hiệu quả. Chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ biết sử dụng và giữ gìn đồ dùng. Cuối năm tôi kiểm kê đánh giá việc bảo quản, sử dụng đồ dùng để cán bộ, giáo viên, nhân viên có trách nhiệm hơn trong việc sử dụng đồ dùng, trang thiết bị và đưa kết quả bảo quản, sử dụng đồ dùng trang thiết bị các lớp vào tiêu chí thi đua làm căn cứ để xếp loại giáo viên, nhân viên cuối năm học. Ngoài ra hàng năm nhà trường phối hợp với các đoàn thể phát động hội thi “ làm đồ dùng đồ chơi” để phục vụ cho hoạt động giáo dục dinh dưỡng. 7.2.3. Biện pháp 3: Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhân viên. 12
- Công tác bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là vô cùng quan trọng vì giáo viên có nắm chắc kiến thức về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ thì mới thực hiện tốt được. Chính vì vậy tôi thực hiện bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng tổ chức các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng bằng nhiều hình thức khác nhau làm thế nào để giảm tải thời gian họp mà giáo viên vẫn được bồi dưỡng chuyên môn: Khuyến khích giáo viên, nhân viên tự học tập, bồi dưỡng: Làm tốt công tác tự học tập, bồi dưỡng sẽ phát huy được tính chủ động, sáng tạo của mỗi giáo viên, nhân viên, mặt khác tiết kiệm được ngân sách, thời gian. Không hình thức bồi dưỡng nào hiệu quả bằng chính mỗi giáo viên tự mình bồi dưỡng. Chính vì vậy tôi luôn tìm mọi cách khơi dậy năng lực tự học, khuyến khích giáo viên, nhân viên tích cực học tập qua các kênh thông tin khác nhau: Ti vi, tạp chí giáo dục mầm non, thăm quan học tập, qua mạng Internet trong các trang web để phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Từ đó khuyến khích giáo viên tham khảo thông tin, trao đổi và tham gia vào các diễn đàn trên mạng từ đó áp dụng công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của mình. Tổ chức hình thức bồi dưỡng trực tuyến: Tôi chuẩn bị các bài bồi dưỡng với các nội dung về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ như: bài “ Phòng chống suy dinh dưỡng thừa cân béo phì cho trẻ mầm non”; “ Công tác đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non” các bài này đưa lên gamil của trường để giáo viên tự học. Những vấn đề thắc mắc hoặc giáo viên chưa hiểu thì sẽ được giải đáp vào buổi sinh hoạt chuyên môn hoặc trực tiếp trả lời qua gamil. Tạo điều kiện cho giáo viên, nhân viên tham dự đầy đủ lớp bồi dưỡng chuyên môn do sở giáo dục, phòng giáo dục tổ chức để nắm chắc kiến thức về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. Ngoài ra còn chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức bồi dưỡng cho các thành viên trong tổ qua các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ, nội dung bồi dưỡng dựa trên kế hoạch bồi dưỡng của nhà trường và tình hình thực tế của tổ mình cho phù hợp, yếu về nội dung nào bồi dưỡng về nội dung đó. 13
- Bồi dưỡng qua các cuộc thi: Năm học 2016-2017 nhà trường tổ chức Hội thi giáo viên giỏi cấp trường. Thông qua hội thi giáo viên không chỉ củng cố kiến thức giáo dục trẻ mà còn được củng cố lại nội dung chăm sóc nuôi dưỡng trẻ với các câu hỏi lý thuyết liên quan đến nội dung chăm sóc nuôi dưỡng mà đặc biệt năm học này giáo viên phải thực hành tổ chức 01 hoạt động chăm sóc hoặc nuôi dưỡng trẻ như: tổ chức giờ ăn, ngủ, dạy trẻ rửa tay, rửa mặt Như vậy thông qua Hội thi giáo không chỉ tìm ra những giáo viên có năng lực mà còn là một hình thức bồi dưỡng có hiệu quả giúp giáo viên học hỏi lẫn nhau và là một hoạt động để giáo viên, nhân viên tự bồi dưỡng. Không chỉ dừng lại ở Hội thi giáo viên giỏi nhà trường còn phối hợp với Công đoàn tổ chức Hội thi nấu ăn chào mừng ngày “Thành lập hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam”, ngày “Quốc tế phụ nữ” để nâng cao tay nghề nữ công gia chánh cho giáo viên, nhân viên mà còn là cơ hội để mỗi giáo viên bồi dưỡng về dinh dưỡng. Hội thi có 8 nhóm tham gia, mỗi nhóm gồm 4 đoàn viên. Mỗi nhóm dự thi phải tự chế biến một bữa ăn phụ cho trẻ. Món bánh khoai 14
- Món cháo ngao và bánh bao ngũ sắc 7.2.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo thực hiện nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường. Nâng mức tiền ăn hàng ngày của trẻ: Căn cứ vào nhu cầu năng lượng thực tế cần đạt cho trẻ/ ngày và giá cả thực phẩm trên thị trường; Căn cứ vào hướng dẫn của sở GD&ĐT tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo giáo dục mầm non toàn tỉnh phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân xuống duới 4% và suy dinh dưỡng thể thấp còi dưới 5% và giảm so với đầu năm học; khống chế tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì. Để thực hiện tốt nhiệm vụ năm học thì cần phải làm tốt công tác tuyên truyền tới phụ huynh học sinh. Vì vậy tôi cùng Ban giám hiệu nhà trường tổ chức họp, bàn và thống nhất với Ban đại diện hội phụ huynh học sinh của nhà trường và phụ huynh học sinh các lớp để nâng mức tiền ăn của trẻ từ mức 10.000đ/ ngày/trẻ lên 12.000 đ/ngày/ trẻ để đảm bảo nhu cầu về năng lượng và dưỡng chất . 15
- Ngoài ra việc thực hiện tốt công tác giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường sẽ góp phần lớn trong việc phát triển thể chất cho trẻ từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện. Nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm vì vậy việc tiếp tục nâng cao chất lượng thực chuyên đề “ Giáo dục dinh dưỡng – VSATTP” tôi vẫn luôn chú trọng để ngày một nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề nói riêng qua đó nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ nói chung. Xây dựng kế hoạch phù hợp với thực tế và triển khai hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề phù hợp với đặc điểm, tình hình của nhóm lớp; tổ chức thực hiện nghiêm túc kế hoạch đa đề ra. Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn cho trẻ các kĩ năng vệ sinh cá nhân, hành vi văn minh và vệ sinh trong ăn uống, giáo dục dinh dưỡng – VSATTP cho trẻ thông qua các hoạt động trong ngày, trong các giờ rèn kĩ năng thông qua tích hợp vào các giờ hoạt động chung, giờ ăn, giờ ngủ ; tổ chức cho trẻ trải nghiệm tập làm nội trợ cho trẻ lớp 5 tuổi. 16
- Khuyến khích giáo viên sáng tác các bài thơ, ca hò, vè, các trò chơi về giáo dục dinh dưỡng qua đó giáo dục trẻ một cách nhẹ nhàng mà đạt hiệu quả. Xây dựng thực đơn phù hợp theo mùa, mùa nào thứ ấy để tránh các thực phẩm trái mùa có chứa chất bảo bảo quản, thuốc hóa học và đảm bảo 5 ngày trong tuần thực đơn không trùng nhau. thực hiện nghiêm túc công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực hiện tính khẩu phần ăn cho trẻ bằng phần mềm Nutrikisd đảm bảo năng lượng đạt: Nhà trẻ 750; mẫu giáo: 822 kcalo trong 1 ngày ở trường cho 1 trẻ. Cân đối các chất theo tỷ lệ P: 12-15, L: 20-30%, G: 55-68%, cân đối giữa mỡ, đạm động vật và thực vật. Sử dụng nguồn nước sạch để chế biến thức ăn cho trẻ. Cuối ngày giao cho bảo vệ thu gom và đem rác thải đổ bãi rác của địa phương. Đồ dùng, dụng cụ ăn uống của trẻ đảm bảo vệ sinh, loại bỏ các đồ dùng bằng nhựa. Chỉ đạo nhân viên nhà bếp thực hiện đúng theo quy trình một chiều để đảm bảo vệ sinh; giữ gìn nơi chế biến thực phẩm, có dụng cụ riêng cho thực phẩm sống và chín; giáo viên, nhân viên phải đeo tạp dề, đội mũ khi chế biến, đeo khẩu trang trước khi chia thức ăn và rửa tay bằng xà phòng tiệt trùng. Có lịch phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên của tổ nuôi dưỡng để nâng cao ý thức, trách nhiệm. 17
- Khuyến khích nhân viên trồng rau sạchch tại trường để cải thiện các bữa ăn hàng ngày cho trẻ và còn tạo môi trường cho trẻ được quan sát trải nghiệm, giáo dục nội dung dinh dưỡng và sức khoẻ vào các hoạt động hàng ngày của trẻ để giúp trẻ có kiến thức về dinh dưỡng của các loại thực phẩm và lợi ích của dinh dưỡng đối với sức khoẻ con người. Giờ quan sát và trải nghiệm vườn rau của lớp 5T.E Chú trọng công tác y tế học đường, chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn cho trẻ; quản lý dụng cụ y tế và tủ thuốc của nhà trường; tham gia vào tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về y tế trường học; truyền thông, giáo dục cách chăm sóc, nuôi dạy trẻ; triển khai các trương trình y tế quốc gia vào trường học; kiểm tra, giám sát việc giữ gìn vệ sinh môi trường, phòng, nhóm lớp, phương tiện phục vụ việc chăm sóc nuôi dạy trẻ; kiểm tra giám sát đảm bảo VSATTP. Tham mưu nhà trường trang bị phương tiện, dụng cụ cấp cứu thiết yếu, tủ thuốc phục vụ cho công tác chăm sóc sực khỏe ban đầu cho trẻ. Tổ chức cân đo trẻ theo đúng kế hoạch và chấm biểu đồ chính xác để nắm được kết quả tỷ lệ trẻ phát triển bình thường và trẻ suy dinh dưỡng; kết hợp với trạm y tế xã khám bệnh định kỳ cho trẻ để có kết quả về sức khoẻ của trẻ; từ đó 18
- để cân đối bữa ăn phù hợp với tình hình chung của nhà trường, đồng thời có biện pháp chăm sóc riêng đối với những trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ bị ốm để sớm khắc phục cho trẻ. Xây dựng kế hoạch phối hợp với trạm y tế xã tổ chức khám bệnh cho trẻ 2 lần/năm để kịp thời phát hiện trẻ mắc bệnh thông báo cho phụ huynh cùng chăm sóc trẻ hoặc cho trẻ đi khám tuyến trên chữa bệnh kịp thời. Chỉ đạo nhân viên y tế phối hợp giáo viên nhóm lớp theo dõi sức khỏe của trẻ ngay từ khi trẻ mới đến lớp đến khi trả trẻ, ghi vào sổ nhật ký hàng ngày nếu có diễn biến bất thường; kịp thời phối hợp với nhân viên y tế, phụ huynh xử trí. Chỉ đạo giáo viên quan tâm đến trẻ mới khỏi ốm đến lớp, ghi các thuốc phụ huynh gửi cho con uống: tên thuốc, giờ uống, liều lượng vào sổ theo dõi và cho phụ huynh ký. Khám sức khoẻ định kỳ cho trẻ Tổ chức tốt giờ ăn cho trẻ: Chỉ đạo các lớp thực hiện tốt việc chăm sóc giờ ăn cho trẻ từ khâu chuẩn bị trước khi ăn (cô hướng dẫn trẻ rửa tay, kê xếp bàn ghế hợp lý, chuẩn bị khăn mặt, khăn lau tay, đĩa để cơm rơi, bát + thìa ăn 19
- cho trẻ ... ) đến khi tổ chức giờ ăn cho trẻ. Trong khi trẻ ăn giáo viên cần tạo không khí vui vẻ, thoái mái và động viên trẻ ăn hết xuất, cần quan tâm đến trẻ mới đến lớp, trẻ mới ốm dậy, trẻ ăn kém hơn ..., và đề phòng trẻ hóc sặc trong khi ăn. Sau khi ăn cô hướng dẫn trẻ xếp bát, thìa, ghế đúng nơi quy định, cho trẻ uống nước và lau miệng. Chỉ đạo giáo viên thực hiện lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng vào trong bữa ăn của trẻ giúp trẻ có kiến thức về dinh dưỡng đối với sức khoẻ đồng thời kích thích trẻ có cảm giác muốn ăn, thèm ăn. Thường xuyên kiểm tra giờ ăn của trẻ, để nắm được việc tổ chức giờ ăn cho trẻ của giáo viên đã đúng quy trình chưa ? trẻ ăn có hết xuất không? thực phẩm nấu ăn cho trẻ - trẻ có thích ăn không ? ... để có kế hoạch điều chỉnh kịp thời. Đồng thời rút kinh nghiệm và bồi dưỡng cho giáo viên về cách tổ chức giờ ăn cho trẻ được đảm bảo. Kết quả: 100% các lớp đều thực hiện tốt. 7.2.5. Biện pháp 5: Tuyên truyền, phối hợp với gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Tầm quan trọng của công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng được thể hiện trong Chỉ thị số 71/2008/CT-BGD&ĐT về tăng cường phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục trẻ em. Như vậy phối hợp với gia đình và cộng đồng nhằm chia sẻ trách nhiệm, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường thúc đẩy và tạo điều kiện tối ưu cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. - Công tác phối hợp với phụ huynh: Phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh trong việc cung cấp thực phẩm sạch cho nhà trường. Luôn lắng nghe ý kiến đóng góp, nguyện vọng của phụ huynh tham gia về chế độ ăn của trẻ, việc thực hiện chăm sóc trẻ của giáo viên Phối hợp với phụ huynh theo dõi những tiến bộ, thay đổi, biểu hiện bất thường của trẻ hàng ngày để cùng với giáo viên có sự điều chỉnh nội dung, phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ và cùng chia sẻ, trao đổi kiến thức chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh cho trẻ ở gia đình góp phần nâng cao hiệu quả những biện pháp đã thực hiện ở trường. 20

