Giáo án Mầm non Lớp Nhà trẻ - Đề tài: Dạy trẻ kỹ năng cầm thìa xúc cơm bằng tay phải. Lĩnh vực: Phát triển tình cảm kỹ năng xã hội - Nguyễn Thị Hoa Phượng
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo án Mầm non Lớp Nhà trẻ - Đề tài: Dạy trẻ kỹ năng cầm thìa xúc cơm bằng tay phải. Lĩnh vực: Phát triển tình cảm kỹ năng xã hội - Nguyễn Thị Hoa Phượng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
giao_an_mam_non_lop_nha_tre_de_tai_day_tre_ky_nang_cam_thia.docx
Nội dung tài liệu: Giáo án Mầm non Lớp Nhà trẻ - Đề tài: Dạy trẻ kỹ năng cầm thìa xúc cơm bằng tay phải. Lĩnh vực: Phát triển tình cảm kỹ năng xã hội - Nguyễn Thị Hoa Phượng
- GIÁO ÁN Lĩnh vực: Phát triển TCKNXH Đề tài: Dạy trẻ kỹ năng cầm thìa xúc cơm bằng tay phải Độ tuổi: Nhà trẻ 24- 36 tháng I. Mục tiêu - Trẻ biết cầm thìa xúc cơm ăn bằng tay phải. - Trẻ xúc ăn gọn gàng không làm rơi vãi. - Rèn kỹ năng khéo léo của đôi bàn tay khi xúc ăn. - Rèn kỹ năng tự phục vụ. - Trẻ hứng thú tham gia hoạt động, giáo dục trẻ biết xúc ăn gọn gàng. II. Chuẩn bị - Nhạc bài hát: Mời bạn ăn - Hình ảnh trẻ ngồi ăn cơm trên màn hình. - Bàn ghế, bát thìa đủ cho trẻ. III. Tiến hành 1. Ổn định tổ chức - Cô và trẻ hát bài “ Mời bạn ăn” - Trò chuyện về bài hát - Hỏi trẻ: Khi ăn các con xúc cơm ăn bằng tay nào? - Cho trẻ nhìn lên màn hình xem các bạn đang làm gì? 2. Dạy trẻ kỹ năng cầm thìa bằng tay phải - Cô mời 2 trẻ lên ngồi xúc ăn và cho trẻ quan sát. - Các con thấy các bạn đang làm gì? - Khi cầm thìa xúc ăn thì phải cầm bằng tay nào? - Cô dạy trẻ cách cầm thìa: Khi cầm thìa xúc ăn phải cầm bằng tay phải, cầm thìa bằng 3 ngón tay, cầm ở giữa thìa, không cầm sát cán thìa. - Tay phải của con đâu? Con giơ tay phải của con lên nào. * Dạy trẻ kỹ năng cầm thìa - Cho trẻ xem ảnh các bạn đang ăn cơm trên màn hình. - Con thấy bạn Phát cầm thìa như thế nào? Bạn cầm như thế đã đúng chưa? - Bạn Uyên cầm thìa như thế nào? Đã cầm thìa bằng tay phải chưa? - Cô nhận xét chung * Trẻ thực hành - Cô giới thiệu trên bàn của cô đã chuẩn bị bát thìa cho trẻ tập xúc ăn. - Cô cho nhóm hoa đỏ lên ngồi vào bàn tập xúc ăn, và cho nhóm hoa xanh quan sát, nhận xét - Nhóm hoa xanh lên, nhóm hoa đỏ quan sát nhận xét. - Cho cả lớp lên ngồi vào bàn xúc ăn, cô nhận xét chung cả lớp. - Cô hỏi lại trẻ: Hôm nay cô dạy các con làm gì? - Giáo dục trẻ phải tự biết xúc cơm ăn, và khi ăn không để rơi vãi thức ăn.
- 3. Kết thúc - Cô cho trẻ đọc bài thơ “Giờ ăn” và về chơi tự do trong góc. Bài tuyên truyền phòng chống bệnh sốt xuất huyết I. Bệnh sốt xuất huyết là gì? - Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt. - Ở Việt Nam, bệnh lưu hành rất phổ biến, ở cả 4 miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát thành dịch lớn vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9, 10. II. Sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết: Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh. • Thường gây ra dịch lớn với nhiều người mắc có thể gây tử vong nhất là với trẻ em, gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội. • Bệnh sốt xuất huyết do vi rút gây ra với 4 típ gây bệnh, một người có thể mắc nhiều lần do nhiễm các typ vi rút khác nhau. III. Đặc điểm của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết: Muỗi có màu đen, thân và chân có những đốm trắng thường được gọi là muỗi vằn. • Muỗi vằn cái đốt người vào ban ngày, đốt mạnh nhất là vào sáng sớm và chiều tối. • Muỗi vằn thường trú đậu ở các góc/xó tối trong nhà, trên quần áo đặc biệt quần áo cod mùi mồ hôi, chăn màn, dây phơi và các đồ dùng trong nhà. • Muỗi vằn đẻ trứng, sinh sản ở các ao, vũng nước hoặc các dụng cụ chứa nước sạch ở trong và xung quanh nhà như bể nước, chum, vại, xô, chậu, giếng nước, hốc cây, hòn non bộ... các đồ vật hoặc đồ phế thải có chứa nước như lọ hoa, bát nước kê chạn, lốp xe, vỏ dừa, vỏ sữa chua, máng thoát nước mưa bị tắc...Muỗi vằn phát triển mạnh vào mùa mưa, khi nhiệt độ trung bình hàng tháng vượt trên 20º C. IV. Biểu hiện của bệnh sốt xuất huyết: Sốt cao đột ngột 39 - 40 độ C, kéo dài 2 - 7 ngày. • Đau đầu dữ dội ở vùng trán. • Đau hốc mắt, đau người, các khớp • Buồn nôn • Phát ban
- • Xuất huyết: dưới da, chảy máu mũi, ra kinh nguyệt bất thường, xuất huyết tiệu hóa . V. Nguyên nhân tử vong: Shock do thoát dịch ra khỏi lòng mạch máu • Xuất huyết nội tạng: tim, não, thận, xuất huyết tiêu hóa VI. Cần làm gì khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết: Đi khám tại cơ sở y tế để chẩn đoán và điều trị theo đơn bác sĩ; khám lại theo hẹn 1. Theo dõi và chăm sóc tại cộng đồng: • Hạ sốt khi nhiệt độ cơ thể từ 38,5 độ C trở lên bằng Paracetamol, lau người bằng nước ấm khi sốt cao • Uống nhiều nước : dung dịch Oresol, nước trái cây • Ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu: Cháo, súp, sữa, thực phẩm giàu vitamin C • Nằm màn cả ngày và đêm, nghỉ ngơi tại giường • Theo dõi hàng ngày các triệu chứng cho đến khi hết sốt 2 ngày 1. Đến ngay cơ sở y tế khi có các dấu hiệu nguy hiểm sau: • Mệt mỏi bất thường, nhiệt độ hạ nhanh dưới 36C; da xanh, lạnh và ẩm • Chảy máu mũi hoặc chảy máu lợi, Có nhiều nốt xuất huyết trên da • Nôn liên tục hoặc nôn ra máu • Đi ngoài phân đen • Ngủ li bì hoặc quấy khóc (trẻ em) • Đau bụng • Khát nhiều (khô miệng) • Khó thở VII. Cách phòng bệnh sốt xuất huyết: Cách phòng bệnh tốt nhất: là diệt muỗi, lăng quăng/bọ gậy và phòng chống muỗi đốt. - Loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng/bọ gậy bằng cách: + Đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng. + Thả cá hoặc mê zô vào các dụng cụ chứa nước lớn (bể, giếng, chum, vại...) để diệt lăng quăng/bọ gậy. + Thau rửa các dụng cụ chứa nước vừa và nhỏ (lu, chum, xô chậu ) hàng tuần. + Thu gom, hủy các vật dụng phế thải trong nhà và xung quanh nhà như chai, lọ, mảnh chai, mảnh lu vỡ, ống bơ, vỏ dừa, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá..., dọn vệ sinh môi trường, lật úp các dụng cụ chứa nước khi không dùng đến. + Bỏ muối hoặc dầu vào bát nước kê chân chạn/tủ đựng chén bát, thay nước bình hoa/bình bông. - Phòng chống muỗi đốt: + Mặc quần áo dài tay. + Ngủ trong màn/mùng kể cả ban ngày.
- + Dùng bình xịt diệt muỗi, hương muỗi, kem xua muỗi, vợt điện diệt muỗi... + Dùng rèm che, màn tẩm hóa chất diệt muỗi. + Cho người bị sốt xuất huyết nằm trong màn, tránh muỗi đốt để tránh lây lan bệnh cho người khác. - Tích cực phối hợp với chính quyền và ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch. Văn Tiến, ngày tháng năm 2024 Người viết: Nguyễn Thị Miên
- Bài tuyên truyền về phòng tránh bệnh thủy đậu 1. Khái niệm - Bệnh thuỷ đậu do một loại siêu vi mang tên Valicella Rota vi rút gây nên, thuỷ đậu là một bệnh rất dễ lây truyền. Khi một người mang siêu vi thuỷ đậu nói, hắt hơi hoặc ho thì các siêu vi đó theo nước bọt, nước mũi bắn ra ngoài tan thành bụi người khác hít phải bệnh đó sẽ lây bệnh ngay. - Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất là trẻ em. Bệnh xảy ra ở người lớn nặng hơn trẻ em. - Bệnh có thể rải rác hoặc bùng phát thành các vụ dịch lớn nhỏ ở nơi đông dân cư, điều kiện vệ sinh kém. 2. Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh - Triệu chứng thường xuất hiện từ 14 đến 16 ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên với người bệnh. - Biểu hiện của bệnh: + Sốt nhẹ từ 1 đến 2 ngày. + Cảm giác mệt mỏi, chán ăn, đau mỏi người và toàn thân phát ban. + Ban thuỷ đậu thường dưới dạng những chấm đỏ lúc đầu sau đó phát triển thành các mụn nước. + Đầu tiên ban mọc ở đầu, mặt, cổ, thân người và các chi. + Ban thuỷ đậu thường rất ngứa. + Đặc điểm của các mụn nước đó là chúng mọc làm nhiều đợt khác nhau. Do đó, cùng trên 1 vùng da, có thể thấy nhiều dạng khác nhau: hoặc ban đỏ, hoặc mụn nước trong, mụn nước đục, mụn đóng vẩy... trong cùng 1 thời gian + Và bệnh có thể khỏi sau 1-2 tuần. Cũng do thời gian tiến triển của bệnh tương đối ngắn, nên một số người đã cho thủy đậu là một bệnh nhẹ, hoàn toàn không nguy hiểm. 3. Biến chứng + Cụ thể, một số trẻ đã bị xuất huyết ở các mụn thủy đậu, bệnh trở thành một thể "thủy đậu xuất huyết" rất trầm trọng. Một số em bị nhiễm khuẩn thêm các vi khuẩn khác. Các vi khuẩn này xâm nhập vào các mụn thủy đậu, làm sưng to lên, nhiều khi lại gây ngứa. Trẻ không chịu được và khi gãi sẽ làm các mụn thủy đậu bị vỡ và từ đó để lại những vết sẹo rất xấu. + Chứng viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy ra hơn nhưng rất nặng và rất khó điều trị.
- + Chứng viêm não do thủy đậu cũng vẫn xảy ra, không hiếm: sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, quờ quạng chân tay, nhiều khi kèm theo co giật, hôn mê. + Những trường hợp này có thể gây chết người nhanh chóng, và một số trẻ tuy qua khỏi được vẫn mang di chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, bị khờ, bị động kinh... + Bà mẹ đã bị thủy đậu trong lúc mang thai, và bệnh đã xảy ra trong 6 tháng đầu của thai kỳ gây thủy đậu bẩm sinh cho con: đó là những trẻ khi mới sinh ra đã có một số tổn thương ngoài da giống như thủy đậu, nhưng tai hại hơn nữa lại có kèm theo một số dị tật: teo cơ ở chân tay, bệnh ở mắt (bệnh "đục thủy tinh thể", có thể gây mù). Những biến chứng, những thể bệnh kể trên của bệnh thủy đậu đã gây tử vong cho không ít trẻ em. Và như vậy, bệnh thủy đậu - tuy vẫn được nhiều người coi là 1 bệnh nhẹ, "lành tính" - thật ra vẫn là 1 bệnh hoàn toàn không nên coi thường, nhất là ở trẻ em. Vậy thì, khi trong gia đình không may có một trẻ hoặc một người lớn bị bệnh thủy đậu, cần làm gì?. 4. Điều trị + Trước hết, bạn hãy cho người bệnh đi khám bệnh ngay. BS sẽ khám và căn cứ vào tình trạng bệnh, sẽ cho vào viện điều trị nội trú hoặc cấp đơn về điều trị tại nhà, có theo dõi, hẹn ngày tái khám. Chớ bao giờ tự ý dùng thuốc hoặc nghe lời mách bảo của một số người không hiểu biết về y khoa mà dùng thuốc sai lầm. + Đã có không ít những trẻ bị thủy đậu bội nhiễm rất nặng, do đã đắp các loại lá, hoặc rắc các thuốc bột bán trôi nổi tại các góc chợ, trên vỉa hè. Lại có trẻ được gia đình cho uống thuốc "đề xa" (1 loại corticoid) thật là nguy hiểm, thuốc đó sẽ làm bệnh nặng lên rất nhanh. + Chống nhiễm khuẩn, hạ sốt, an thần. + Nếu người bệnh được bác sĩ cho điều trị ngoại trú tại nhà, hãy cho nằm nghỉ trong 1 phòng thoáng mát, sạch sẽ, ăn các chất dễ tiêu. Cố gắng tránh gãi. Cắt ngắn móng tay. Mặc quần áo dài để che kín các nốt thủy đậu, tránh để ruồi, muỗi đậu vào, tránh nước và gió. Với các nốt thủy đậu khi vỡ thì nên chấm các thuốc sát trùng như xanh methylen, làm se nốt và ngừa bội nhiễm vi khuẩn, sát trùng khô nhanh. Nốt nào chưa vỡ thì không nên bôi vì không có tác dụng. Bên cạnh đó, nên tắm cho con bằng nước ấm, chú ý không tắm lâu như khi trẻ khỏe mạnh + Nên cách ly người bệnh từ 5 đến 7 ngày để tránh lây lan. 5. Phòng bệnh + Tiêm vacxin phòng bệnh thủy đậu cho trẻ em từ 12 tháng tuổi. +Vệ sinh cá nhân sạch sẽ. + Ăn uống đủ chất, uống nhiều nước trong ngày. + Hạn chế tiếp xúc với người bị bệnh để phòng tránh lây lan.
- + Những trường hợp mắc bệnh thuỷ đậu cần được nghỉ học hoặc nghỉ làm việc từ 7 đến 10 ngày từ lúc khi bắt đầu phát hiện bệnh để tránh lây lan cho những người xung quanh. + Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, sử dụng các đồ dùng sinh hoạt riêng, vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý. + Thực hiện vệ sinh nhà cửa, trường học và vật dụng sinh hoạt bằng dung dịch sát khuẩn thông thường, phòng ở phải sạch sẽ thoáng khí. + Vệ sinh phòng học thoáng mát, gọn gàng sạch sẽ. Qua bài tuyên truyền, mong tất cả mọi người hiểu rõ sự nguy hiểm của bệnh thủy đậu. Từ đó tự biết cách bảo vệ, chăm sóc cho trẻ, bản thân, những người trong gia đình và những người xung quanh./. Văn Tiến, ngày 15 tháng 3 năm 2024 Người viết Nguễn Thị Hoa Phượng
- TUYÊN TRUYỀN VỀ PHÒNG, CHỐNG BỆNH THỦY ĐẬU Chia sẻ Đọc bài Lưu Bệnh thuỷ đậu do một loại siêu vi mang tên Varicella Zoster Vi rút gây nên, thuỷ đậu là một bệnh rất dễ lây truyền. Khi một người mang siêu vi thuỷ đậu nói, hắt hơi hoặc ho thì các siêu vi đó theo nước bọt, nước mũi bắn ra ngoài tan thành bụi người khác hít phải bệnh đó sẽ lây bệnh ngay. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất là trẻ em. Bệnh xảy ra ở người lớn nặng hơn trẻ em. Bệnh có thể rải rác hoặc bùng phát thành các vụ dịch lớn nhỏ ở nơi đông dân cư, điều kiện vệ sinh kém. 1. Triệu chứng và dấu hiệu nhận biết: - Triệu chứng thường xuất hiện từ 14 đến 16 ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên với người bệnh. - Biểu hiện của bệnh: + Sốt nhẹ từ 1 đến 2 ngày. + Cảm giác mệt mỏi, chán ăn, đau mỏi người và toàn thân phát ban. + Ban thuỷ đậu thường dưới dạng những chấm đỏ lúc đầu sau đó phát triển thành các mụn nước. + Đầu tiên ban mọc ở đầu, mặt, cổ, thân người và các chi. + Ban thuỷ đậu thường rất ngứa. 2. Biến chứng: Thường gặp nhất là bị nhiễm trùng tại các nốt đậu. Những người bị biến chứng này nếu không chữa trị kịp thời, tổn thương sẽ ăn sâu, lan rộng nên cho dù được chữa khỏi vẫn có thể để lại nốt sẹo rỗ gây mất thẩm mỹ, nặng hơn còn dẫn đến viêm mô tế bào, nhiễm trùng máu. Ngoài ra, người mắc bệnh thủy đậu còn có thể bị biến chứng viêm phổi, viêm não,... - Chứng viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy ra hơn nhưng rất nặng và rất khó điều trị. - Chứng viêm não do thủy đậu cũng vẫn xảy ra, không hiếm: sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, quờ quạng chân tay, nhiều khi kèm theo co giật, hôn mê. - Những trường hợp nặng có thể gây chết người nhanh chóng, và một số trẻ tuy qua khỏi được vẫn mang di chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, bị khờ, bị động kinh, - Bà mẹ đã bị thủy đậu trong lúc mang thai, và bệnh đã xảy ra trong 6 tháng đầu của thai kỳ gây thủy đậu bẩm sinh cho con nhưng tai hại hơn nữa lại có
- kèm theo một số dị tật: teo cơ ở chân tay, bệnh ở mắt (bệnh "đục thủy tinh thể", có thể gây mù). 3. Điều trị bệnh: - Chống nhiễm khuẩn, hạ sốt, an thần. - Tại chỗ: Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ khi vệ sinh sạch sẽ. - Nên cách ly người bệnh từ 5 đến 7 ngày để tránh lây lan. - Luôn mặc quần áo thoáng mát, tránh gió cho người bệnh. - Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả. - Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh,... Tuyệt đối không được dùng thuốc Aspirin để hạ sốt. - Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị. 4. Phòng bệnh: - Cách phòng bện tốt nhất là tiêm vac xin phòng bệnh - Vệ sinh cá nhân sạch sẽ. - Ăn uống đủ chất, uống nhiều nước trong ngày. - Vệ sinh phòng học thoáng mát, gọn gàng sạch sẽ. - Không tiếp xúc với người bị bệnh thủy đậu để tránh lây lan. - Đối với trẻ em: nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước. - Nshững trường hợp mắc bệnh thuỷ đậu cần được nghỉ học hoặc nghỉ làm việc từ 7 đến 10 ngày từ lúc khi bắt đầu phát hiện bệnh để tránh lây lan cho những người xung quanh. - Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, sử dụng các đồ dùng sinh hoạt riêng, vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý. - Thực hiện vệ sinh nhà cửa, trường học và vật dụng sinh hoạt bằng dung dịch sát khuẩn thông thường, phòng ở phải sạch sẽ thoáng khí. - Vệ sinh phòng học thoáng mát, gọn gàng sạch sẽ. 1. Khuyến cáo phòng bệnh sốt xuất huyết Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút Dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt. Đến nay, bệnh sốt xuất huyết chưa có vắc xin phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, biện pháp phòng bệnh chủ yếu và hiệu quả nhất là diệt muỗi, diệt lăng quăng/bọ gậy và phòng muỗi đốt.
- Để bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và mọi người xung quanh, mỗi tuần người dân hãy dành 10 phút để diệt lăng quăng và thực hiện các biện pháp phòng bệnh sau: 1. Kiểm tra, phát hiện và diệt lăng quăng trong các dụng cụ chứa nước sinh hoạt bằng cách thường xuyên thau rửa, đậy nắp kín bể và các vật dụng chứa nước, thả cá để tiêu diệt lăng quăng. 2. Thường xuyên thay nước ở các lọ hoa, thả muối hoặc hóa chất diệt bọ gậy vào bát nước kê chân chạn, bể cảnh, hòn non bộ, khay nước thải tủ lạnh... 3. Loại bỏ các vật liệu phế thải, hốc nước tự nhiên, lật úp các vật dụng có thể chứa nước không sử dụng, để không cho muỗi đẻ trứng. 4. Ngủ màn phòng muỗi đốt ngay cả ban ngày, mặc quần áo dài tay, dùng bình xịt muỗi, hương muỗi, kem xua muỗi, vợt điện muỗi... để diệt muỗi và phòng muỗi đốt. 5. Tích cực phối hợp với ngành y tế trong các chiến dịch diệt lăng quăng và các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch. 6. Khi bị sốt đến ngay cơ sở y tế để được khám và tư vấn điều trị. Không tự ý điều trị tại nhà. “Không có muỗi=Không có sốt xuất huyết. Hãy chung tay loại bỏ nơi sinh sản của muỗi!” 2. Khuyến cáo phòng bệnh tay chân miệng Bệnh tay chân miệng là bệnh nhiễm vi rút cấp tính, lây truyền theo đường tiêu hóa, thường gặp ở trẻ nhỏ và có khả năng gây thành dịch lớn. Bệnh dễ lây cho trẻ liên quan đến hành vi vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường không đảm bảo, đặc biệt kỹ năng vệ sinh cho trẻ, chưa thực hiện rửa tay với xà phòng thường xuyên. Bệnh tay chân miệng tại Việt Nam là bệnh lưu hành quanh năm và gặp ở hầu hết 63 tỉnh, thành phố, thường ghi nhận số mắc cao vào khoảng thời gian từ tháng 3-5 và tháng 9-11. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, tổn thương niêm mạc miệng và da chủ yếu ở dạng phỏng nước thường thấy ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông. Hầu hết các ca bệnh đều diễn biến nhẹ. Tuy nhiên ở một số trường hợp, bệnh có thể diễn biến nặng và gây biến chứng nguy hiểm như viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nên cần được phát hiện sớm, điều trị kịp thời.
- Để chủ động phòng chống bệnh tay chân miệng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân và cộng đồng cần thực hiện các biện pháp sau: 1. Bàn tay sạch: Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em). Chú ý rửa tay trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ. 2. Ăn sạch: Thực hiện tốt vệ sinh ăn uống gồm ăn chín, uống chín; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng (tốt nhất là ngâm tráng nước sôi); đảm bảo sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày; không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa, thìa, đồ chơi chưa được khử trùng. 3. Ở sạch: thường xuyên lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc với trẻ hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường. 4. Không cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh. 5. Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân và các chất thải của bệnh nhân phải được thu gom và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh. 6. Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh cần đưa trẻ đi khám hoặc thông báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất. 3. Khuyến cáo phòng bệnh cúm mùa Bệnh cúm mùa là bệnh truyền nhiễm cấp tính với triệu chứng sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Tác nhân gây bệnh chủ yếu do các chủng vi rút cúm A(H3N2), cúm A(H1N1), cúm B và cúm C. Bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao, qua đường hô hấp thông qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng do hắt hơi, ho khạc. Bệnh cúm thông thường bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 2-7 ngày, nhưng đối với trẻ em, người già sức đề kháng kém, đặc biệt là người có bệnh mạn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc suy giảm miễn dịch ... thì bệnh cúm có thể diễn biến nặng hơn, dễ bị biến chứng và có thể dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời. Để chủ động phòng chống cúm mùa, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các nội dung sau: 1. Đảm bảo vệ sinh cá nhân, che miệng khi hắt hơi; thường xuyên rửa tay với xà phòng với nước sạch; vệ sinh mũi, họng hàng ngày bằng nước muối.
- 2. Giữ ấm cơ thể, ăn uống đủ chất dinh dưỡng để nâng cao thể trạng. 3. Tiêm vắc xin cúm mùa để tăng cường miễn dịch phòng chống cúm. 4. Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân cúm hoặc các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh khi không cần thiết; Sử dụng khẩu trang y tế khi cần thiết. 5. Người dân không tự ý mua thuốc và sử dụng thuốc kháng vi rút (như thuốc Tamiflu) mà cần phải theo hướng dẫn và có chỉ định của thầy thuốc. 6. Khi có triệu chứng ho, sốt, sổ mũi, đau đầu, mệt mỏi cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, xử trí kịp thời. 4. Khuyến cáo phòng bệnh đậu mùa khỉ Bệnh đậu mùa khỉ là bệnh lây truyền từ động vật sang người, việc lây truyền từ người sang người khi tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gần, lây qua vết thương hở, dịch cơ thể, giọt bắn lớn của đường hô hấp và qua tiếp xúc với các vật dụng, đồ dùng bị nhiễm mầm bệnh. Sự lây truyền có thể xảy ra qua nhau thai từ mẹ sang thai nhi hoặc khi tiếp xúc gần trong và sau khi sinh. Bệnh đậu mùa khỉ thường có các triệu chứng như sốt, đau đầu, đau cơ, đau lưng, sưng hạch bạch huyết, ớn lạnh, mệt mỏi, phát ban có thể nhìn giống như mụn nước xuất hiện trên mặt, bên trong miệng hoặc ở các bộ phận khác của cơ thể như bàn tay, bàn chân, ngực, bộ phận sinh dục hoặc hậu môn. Bệnh đậu mùa khỉ có thể tự khỏi trong vòng 2-3 tuần; tuy nhiên hay gặp tổn thương da toàn thân và có hạch to kéo dài 2-3 tuần. Bệnh thường nặng ở trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người suy giảm miễn dịch. Để chủ động phòng chống dịch bệnh đậu mùa khỉ ở nước ta, Bộ Y tế đã ban hành khuyến cáo người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh sau: 1. Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, tốt nhất che bằng khăn vải hoặc khăn tay hoặc khăn giấy dùng một lần hoặc ống tay áo để làm giảm phát tán các dịch tiết đường hô hấp; rửa tay bằng xà phòng và nước sạch hoặc dung dịch sát khuẩn ngay sau khi ho, hắt hơi. Không khạc nhổ bừa bãi nơi công cộng. 2. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước sạch hoặc dung dịch sát khuẩn tay. 3. Người có triệu chứng phát ban cấp tính không rõ nguyên nhân kèm theo một hoặc nhiều triệu chứng nghi ngờ cần chủ động liên hệ với cơ sở y tế để được theo dõi, tư vấn kịp thời. Đồng thời, cần chủ động tự cách ly, tránh quan hệ tình dục. 4. Tránh tiếp xúc gần với người mắc bệnh đậu mùa khỉ, tránh tiếp xúc trực tiếp với những vết thương, dịch cơ thể, giọt bắn và các vật dụng, đồ dùng bị nhiễm
- mầm bệnh. Trong trường hợp nơi ở/nơi làm việc có người mắc hoặc nghi ngờ mắc bệnh, cần thông báo cho cơ quan y tế để được tư vấn và xử trí kịp thời, không tự ý điều trị. 5. Người đến các quốc gia có lưu hành dịch bệnh đậu mùa khỉ (khu vực Trung và Tây Phi), cần tránh tiếp xúc với động vật có vú (chết hoặc sống) như: động vật gặm nhấm, thú có túi, động vật linh trưởng có thể chứa virus đậu mùa khỉ. Khi quay trở về Việt Nam cần chủ động khai báo với cơ quan y tế địa phương để được tư vấn. 6. Đảm bảo an toàn thực phẩm; thực hiện lối sống lành mạnh, tăng cường vận động thể lực, nâng cao sức khỏe. 5. Khuyến cáo phòng bệnh sởiGIÁO ÁN Phát triển nhận thức Đề Tài: Nhận biết phân biệt hình tròn hình vuông Chủ đề: Cây và những bông hoa đẹp Đối tượng: Trẻ 24-36 tháng Số trẻ: 22 trẻ. Thời gian: 15-20 phút. Người dạy: Nguyễn Thị Hoa Phượng I. Mục tiêu 1. Kiến thức - Trẻ nhận biết và gọi đúng tên hình tròn,hình vuông - Trẻ pb được hình tròn, hình vuông. 2. Kỹ năng - Rèn luyện kỹ năng tri giác, quan sát bằng mắt - Rèn kĩ năng phát âm và nói đủ câu cho trẻ...... 3. Thái độ - Trẻ hứng thú tham gia vào giờ học - Trẻ biết yêu quý giữ gìn đồ dùng, đồ chơi trong lớp - Trẻ biết cất đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định II. Chuẩn bị - Đồ dùng của cô: Hình tròn, hình vuông có màu sắc khác nhau - Mỗi trẻ một rổ nhựa đựng hình vuông, hình tròn có màu sắc khác nhau - Hộp quà đựng: Quả bóng, hộp bánh,hình tròn, hình vuông. III. Tổ chức hoạt động. Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ 1. Gây hứng thú - Cô cùng trẻ hát bài “quả bóng” Trẻ hát
- - Các con vừa hát gì? - Trẻ trả lời - Cô dẫn dắt trẻ vào bài - Đến với lớp mình hôm nay, cô giáo còn tặng lớp mình một món quà nữa đấy. Để biết được đó là món quà gì chúng mình cùng chơi với cô trò chơi - Trẻlắng nghe “Trời tối, trời sáng nhé! 2. Nội dung 2.1. Nhận biết phân biệt: Hình tròn, hình vuông * Nhận biết hình tròn, hình vuông. - Cho trẻ chơi tc “trời tối, trời sáng” - Cô đưa lần lượt từng món quà ra hỏi trẻ: - Trẻ chơi cùng cô - Đây là cái gì ?Có dạng hình gì? - Cô cho trẻ nhắc lại -Trẻ trả lời + Cho trẻ chọn hình theo mẫu, chọn hình theo tên - Trẻ nhắc lại (lớp, tổ, cá gọi nhân, nhóm) - Cô giơ hình nào lên thì trẻ tìm chọn hình đó giơ lên và nói tên hình: Vd: Cô giơ hình tròn lên=> trẻ tìm chọn đúng hình tròn giống cô giơ lên. - Trẻ chọn hình giơ lên và - Cô hỏi trẻ: đây là hình gì? - Cô và trẻ cùng nhắc lại tên hình Nói tên hình - Hình tròn màu gì?... (Với hình vuông cô hướng dẫn tương tự) + Cho trẻ chọn hình theo tên gọi: -Trẻ trả lời - Cô nói tên hình nào thì trẻ tìm chọn hình đó giơ lên và gọi tên hình... * Cho trẻ phân biệt hình tròn, hình vuông. + Cô cầm hình tròn giơ lên và hỏi trẻ: đây là hình gì? - Các con cầm hình tròn giơ lên cho cô nào? - Trẻ sờ hình tròn - Cô cho trẻ sờ vào hình tròn - Bây giờ các con lăn hình tròn cho cô xem nào - Các con có lăn được không? - Trẻ lăn hình - Cô cho trẻ lăn hình tròn 3-4 lần - Trẻ trả lời => Hình tròn lăn được vì đường bao quanh của nó tròn nên ta có thể lăn được về mọi phía. - Trẻ lắng nghe + Cô cầm hình vuông giơ lên và hướng dẫn tương tự
- => Cô khái quát lại: hình vuông không lăn được vì hình vuông có các góc, các cạnh, còn hình tròn lăn được vì nó tròn... * Mở rộng - Trẻ lắng nghe - Các con hãy nhìn xung quanh lớp mình xem có những đồ dùng đồ chơi nào có dạng hình trò nào? => À đúng rồi xq chúng mình có rất nhiều đ d đ c có dạng hình tròn như: quả cam, cái đĩa, cái vòng... - Đd có dạng hình vuông: khăn mặt, viên gạch nát nền.... 2.2. Củng cố * Cho trẻ chơi trò chơi: “Nhanh mắt, nhanh tay” - Trẻ chơi - Cô gt tên trò chơi, cách chơi: Khi cô nói đến hình nào thì các con chọn hình đó giơ lên và nói tên hình. - Cô cho trẻ chơi 2-3 lần. - Cô nhận xét, khen ngợi trẻ. - Trẻ lắng nghe * Trò chơi: “ Về đúng vườn hoa của mình”. + Cô gt tên trò chơi, cách chơi + Cách chơi: Cô có 2 vườn hoa một vườn mang ký hiệu hình tròn, một vườn mang ký hiệu hình - Trẻ chơi vuông. Khi chơi các con vừa đi vừa hát, khi nào nghe thấy cô nói “Về đúng vườn của mình”, thì - Trẻ lắng nghe những bạn nào cầm hình tròn chạy về vườn có ký Trẻ hát vận động theo nhạc hiệu hình tròn. Hình vuông về vườn hoa hình bài “Hoa bé ngoan” và cất vuông. Các con nắm được cách chơi chưa nào? đồ dùng. - Cô cho mỗi trẻ cầm 1 hình lên chơi - Cô cho trẻ chơi 2-3 lần. - Giáo dục trẻ 3.Kết thúc: - Cô nhận xét chung giờ học -Cho trẻ hát vận động theo nhạc bài “Hoa bé ngoan” và cất đồ dùng.
- Bài tuyên truyền biện pháp phòng, ngừa và can thiệp kịp thời đối với các hành vi xâm hại, bạo lực học đường Như chúng ta đã biết, tình trạng bạo lực học đường trong xã hội hiện nay liên tục xảy ra, là nỗi bức xúc của xã hội, nỗi lo lắng của các bậc phụ huynh và những người quan tâm đến sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Để phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường hiện nay, cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Toàn xã hội cần phải quan tâm củng cố nâng cao chất lượng môi trường xã hội, văn minh tiến bộ. Quản lý, ngăn chặn và chế tài hiệu quả những hoạt động có tác hại đến môi trường văn hóa xã hội, nghiêm cấm các trò chơi điện tử, phim ảnh bạo lực. Nâng cao vai trò, vị trí và trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tiếp tục thúc đẩy phong trào ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền; xây dựng gia đình văn hóa. Loại bỏ các hành vi bạo lực ra khỏi đời sống gia đình. Nâng cao kiến thức bảo vệ cuộc sống trẻ em và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em tại gia đình. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục: Gia đình - Nhà trường - Xã hội. Xác định rõ vai trò, vị trí của người thầy, quyền hạn và trách nhiệm trong việc giáo dục đạo đức học sinh, đảm bảo song song việc dạy chữ và dạy làm người. Nhà trường và thầy cô giáo phải được bảo vệ danh dự và có đủ cơ chế để răn đe giáo dục học sinh. Cách phòng tránh bạo lực học đường * Đối với học sinh: - Tích cực rèn luyện kĩ năng sống, ngoan ngoãn lễ phép với ông bà, bố mẹ, với thầy cô giáo. - Chấp hành tốt nội quy trường lớp. - Tránh xa bạo lực. nói không với bạo lực. - Nếu thấy hiện tượng bạo lực phải kịp thời báo ngay cho nhà trường, thầy cô giáo hoặc cơ quan có thẩm quyền để kịp thời can thiệp và xử lí. - Học cách kiềm chế cảm súc. - Tích cự tham gia vào các hoạt động tình nguyện mà nhà trường tổ chức nhằn tăng tính thiện và tính hướng thiện trong con người các em. * Đối với nhà trường và các cơ quan quản lý giáo dục: - Tích cực hoàn thiện bộ rèn luyện kỹ năng sống và đưa bộ môn dạy kỹ năng sống vào trong nhà trường. - Tổ chức các hoạt động sân trường, hoàn động tình nguyeenjj mang tính hướng thiện và định hướng nhân cách cho học sinh, giúp học sinh phát huy những đức tính tốt đẹp trong bản thân.
- - Có hình phạt và cách giáo dục nghiêm khắc, phù hợp đối với những học sinh gây ra bạo lực, và có hình thức hỗ trợ kịp thời đối với nạn nhân của các vụ bạo lực. - Tổ chức tuyên truyền tác hại và cách phòng tránh bạo lực học đường đói với giáo viên và học sinh. - Phối hợp với gia đình và cơ quan đoàn thể đóng trên địa bàn xã trong công cuộc phòng tránh bạo lực học đường. * Đối với giáo viên - Thường xuyên quan tâm, theo dõi và nắm bắt tình hình của các em học sinh trong lớp mình chủ nhiệm hoặc tham gia giảng dạy đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm và giáo viên tham gia dạy kỹ năng sống. - Có biện pháp can ngăn giáo dục kịp thời đối với hiện tượng có nguy cơ dân đến bạo lực đối với học sinh trong lớp chủ nhiệm haowjc tham gia giảng dạy. - Tích cực tổ chức các hoạt động sân trường, hoạt động tập thể trong giờ hoạt động sân trường hoặc trong tiết sinh hoạt, nhăm tăng tình cảm của các em học sinh trong cùng lớp, cùng trường. - Tạo môi trường học tập và giảng dạy trong sáng lành mạnh. - Phối hợp với gia đình và nhà trường để quan tâm và hỗ trợ kịp thời những khó khăn vướng mắc của học sinh. * Đối với gia đình: - Bố mẹ cần tạo ra một môi trường sống lành mạnh, yêu thương cho con cái - Đồng thời phối hợp chặt chẽ với nhà trường và giáo viên chủ nhiệm để kịp thời nắm bắt tình hình học tập của con em mình tại trường học. Văn Tiến, ngày 15 tháng 12 năm 2023 Người viết Lê Thị Tuyến Bài tuyên truyền phòng chống bạo lực học đường trong trường mầm non
- * Thế nào là bạo hành? Đó là hành động và lời nói có tính chất lăng mạ, đay nghiến, xỉ vả, xúc phạm, chà đạp, đánh đập, tra tấn bất chấp pháp luật, đạo lý, làm tổn thương thể xác và tinh thần của người khác. * Bạo lực đối với trẻ em là các hành vi sau - Lăng nhục, chửi mắng, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý, gây tổn thương về tinh thần, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. - Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng của trẻ em. - Đối xử tồi tệ, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân, bắt làm những việc trái đạo đức xã hội. - Cưỡng ép lao động quá sức, quá thời gian quy định, làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại và những công việc trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ và dễ bị lợi dụng hoạt động mại dâm. * Hậu quả của hành vi bạo lực - Để lại hậu quả nặng nề cho trẻ em + Về thể chất: Đau đớn, thương tích, ảnh hưởng xấu đến phát triển cơ thể. + Về trí tuệ: Học hành giảm sút, chậm phát triển trí tuệ. + Về hành vi: Thụ động, ngại giao tiếp, rối loạn hành vi, hung hăng, cư xử bạo lực với ngưới khác + Về tâm lý: Mặc cảm, tự ti, mất lòng tin, thờ ơ, né tránh, gây rối nhiễu tâm lý. - Làm xói mòn đạo đức gia đình và xã hội, gây bất ổn hoặc tan vỡ gia đình, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn của cộng đồng và xã hội * Một số biểu hiện của trẻ em bị bạo lực + Trên cơ thể: - Vết thâm tím, trầy xước; vết thương xuất hiện ỡ những chỗ thường khó có thương tích khi bị ngã; vết thương đang lên da non, vết sẹo, vết trầy xiết - Vết bỏng do thuốc lá hoặc bàn là, nước sôi, xuất hiện ở nhiều chỗ trên cơ thể. - Vết gãy, vỡ rạn xương + Về tâm lý, thái độ và hành vi: - Trẻ sợ hãi, hoảng loạn, né tránh tiếp xúc, có hành vi tự hủy hoại mình, kết quả học tập sút kém. * Thông báo hoặc tố giác các trường hợp trẻ em bị bạo lực - Vì lương tâm và trách nhiệm bảo vệ trẻ em, mọi cá nhân, gia đình, trẻ em và cộng đồng hãy thông báo, tố giác đến cơ quan có trách nhiệm nếu có dấu hiệu nghi ngờ, phát hiện, chứng kiến trường hợp trẻ em bị bạo lực. - Cần thông báo, tố giác kịp thời, trung thực, chính xác các thông tin có liên quan đến trẻ em bị bạo lực và đối tượng có hành vi bạo lực trẻ em. - Không tố giác sai sự thật về trường hợp trẻ em bị bạo lực để làm hại người khác.
- * Để phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường hiện nay, cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Toàn xã hội cần phải quan tâm củng cố nâng cao chất lượng môi trường xã hội, văn minh tiến bộ.Quản lý, ngăn chặn và chế tài hiệu quả những hoạt động có tác hại đến môi trường văn hóa xã hội, nghiêm cấm các trò chơi điện tử, phim ảnh bạo lực. Nâng cao vai trò, vị trí và trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.Tiếp tục thúc đẩy phong trào Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền; xây dựng gia đình văn hóa. Loại bỏ các hành vi bạo lực ra khỏi đời sống gia đình. Nâng cao kiến thức bảo vệ cuộc sống trẻ em và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em tại gia đình. Phối hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục: Gia đình - Nhà trường - Xã hội. Xác định rõ vai trò, vị trí của người thầy, quyền hạn và trách nhiệm trong việc giáo dục đạo đức học sinh, đảm bảo song song việc dạy chữ và dạy làm người. Nhà trường và thầy cô giáo phải được bảo vệ danh dự và có đủ cơ chế để răn đe giáo dục học sinh. Văn Tiến, ngày 15 tháng 12 năm 2023 Người viết Nguyễn Thị Miên BÀI TUYÊN TRUYỀN VÌ MỘT MÔI TRƯỜNG XANH – SẠCH – ĐẸP Trẻ mầm non“Học bằng chơi, chơi mà học”. Chính vì điều đó mà môi trường cho trẻ hoạt động học tập vui chơi là rất quan trọng. Vậy cần xây dựng môi trường học tập cho trẻ như thế nào? Như chúng ta đã biết một môi trường gần gũi thân thiện, một môi trường xanh - sạch - đẹp luôn là những điều kiện tốt để trẻ học tập và vui chơi. Năm học 2022-2023, Trường mầm non Văn Tiến tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn và thân thiện. Thực

